- 1. Người giám hộ? Pháp nhân có được làm người giám hộ không?
- 2. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ chọn người giám hộ cho mình cần đáp ứng điều kiện gì?
- 3. Cá nhân được làm người giám hộ cần đáp ứng điều kiện gì?
- 4. Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền của cha mẹ đối với con có được làm người giám hộ không?
- 5. Điều kiện để pháp nhân trở thành người giám hộ.
1. Người giám hộ? Pháp nhân có được làm người giám hộ không?
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật dân sự 2015:
Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
Theo Bộ luật dân sự 2015:
Điều 48. Người giám hộ
1. Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.
Như vậy, người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân (điều kiện cụ thể được quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự 2015). Theo đó, tổ chức không có tư cách pháp nhân, theo quy định tại điều luật này, không thể làm người giám hộ.
- Tổ chức có tư cách pháp nhân là tổ chức phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 74. Pháp nhân
1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện để trở thành người giám hộ thì chủ thể có thế giám hộ cho nhiều người. ( "Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người" Khoản 3 Điều 48 Bộ luật dân sự 2015)
2. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ chọn người giám hộ cho mình cần đáp ứng điều kiện gì?
Theo Điều 48 Bộ luật dân sự thì người đang có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể chọn người giám hộ cho mình khi họ ở trong tình trạng cần được giám hộ ví dụ như khi người đó rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Điều 48. Người giám hộ (Bộ luật dân sự 2015)
1. Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.
2. Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
Trong trường hợp xác lập giám hộ theo chỉ định của người được giám hộ (khi họ vẫn đang trong tình trạng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự) thì quan hệ giám hộ chỉ được giám hộ trên thực tế khi đáp ứng các điều kiện:
- Có đồng ý của người được chỉ định làm người giám hộ;
- Có văn bản lựa chọn người giám hộ được công chứng hoặc chứng thực.
3. Cá nhân được làm người giám hộ cần đáp ứng điều kiện gì?
Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ đã được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015:
Điều 49. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Như vậy, cá nhân là người giám hộ phải đáp ứng bốn nhóm điều kiện về mức độ năng lực hành vi dân sự, về tư cách đạo đức, về lý lịch tư pháp liên quan đến trách nhiệm hình sự và về lý lịch tư pháp của cá nhân. Các điều kiện này được quy định để đảm bảo việc giám hộ được thực hiện đúng mục đích cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phải ở mức độ đầy đủ mới đáp ứng điều kiện đầu tiên trong khả năng trở thành người giám hộ. Quy định này hướng tới yêu cầu về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi đầy đủ của cá nhân giám hộ. Bởi vì chỉ có người có mức độ năng lực hành vi dân sự như vậy mới có thể chăm sóc, bảo vệ cũng như đủ điều kiện pháp lý để thay mặt người được giám hộ tham gia các giao dịch trong cuộc sống.
- Cá nhân giám hộ được yêu cầu có tư cách đạo đức tốt, cùng các điều kiện cần thiết cho việc giám hộ. Điều kiện này là cơ sở cho các hoạt động giáo dục, nuôi dưỡng người được giám hộ.
- Lý lịch tư pháp của cá nhân làm người giám hộ cũng không thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa được xóa án tích liên quan đến các tội xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác; cũng như không thuộc trường hợp đã bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
4. Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền của cha mẹ đối với con có được làm người giám hộ không?
Cha mẹ có quyền yêu thương, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho đất nước. Cha mẹ có những quyền cơ bản đối với con như: quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con; quyền giáo dục con; quyền đại diện cho con; quyền có tài sản riêng của con; quyền quản lý tài sản riêng của con; quyền định đoạt tài sản cuart con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự,… Mặc dù các quyền này của cha mẹ là quyền đương nhiên nhưng trên thực tế, có một số trường hợp, để bảo vệ con, cha mẹ bị hạn chế một số quyền đối với con chưa thành niên.
- Cha mẹ bị Tòa án tuyên hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong trường hợp:
Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có liệt kê các trường hợp mà cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên
Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Tòa án ra quyết định hạn chế một hoặc một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con.
- Theo Điều 49 Bộ luật dân sự 2015 thì nếu cá nhân bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì không được làm người giám hộ:
Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
...
Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Như vậy, Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên không thể trở thành người giám hộ. Vì trong trường hợp này, khi đã bị Tòa án tuyên hạn chế quyền đối với con chưa thành niên tức là họ đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ, có tư cách đạo đức, lối sống không phù hợp để giám hộ cho người khác. Khi giám hộ, người giám hộ phải đảm nhiệm công việc chăm sóc, bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ.
5. Điều kiện để pháp nhân trở thành người giám hộ.
Theo Bộ luật dân sự 2015, pháp nhân để được làm người giám hộ thì phải đáp ứng các điều kiện sau:
Điều 50. Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ
Pháp nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.
2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Cụ thể, pháp nhân là người giám hộ cần có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Yêu cầu về sự phù hợp của năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không được giải thích cụ thể trong điều luật và rất khó để xác định. Có thể suy đoán rằng điều kiện này yêu cầu pháp nhân thực hiện các hoạt động trong các lĩnh vực có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người giám hộ. Ví dụ như pháp nhân là tổ chức giáo dục, là cơ sở chữa bệnh. Tuy nhiên, với những pháp nhân liên quan đến hoạt động giải trí đơn thuần (như Karaoke) hoặc liên quan đến các sản phẩm không được sử dụng ở lứa tuổi chưa thành niên (như bia rượu thuốc lá) sẽ không thực sự phù hợp với mục đích nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ người được giám hộ.
Bên cạnh đó, cũng giống như cá nhân, khi trở thành người giám hộ, pháp nhân được yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Điều kiện này có thể suy luận về các yêu cầu liên quan đến tài chính, nhân sự cũng như vị trí địa lý nơi có trụ sở, văn phòng, chi nhánh của pháp nhân.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.