Mục lục bài viết
- 1. Các bước của quá trình tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
- 1.1 Giai đoạn chuẩn bị
- 1.2 Giai đoạn tiếp xúc ban đầu
- 1.3 Giai đoạn khai thác thông tin
- 1.4 Giai đoạn kết thúc
- 2. Các tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
- 2.1 Các phương pháp tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
- 2.2 Những thủ thuật tác động tâm lý trong điều tra đối tượng
1. Các bước của quá trình tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
1.1 Giai đoạn chuẩn bị
- Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu đã có để bước đầu xác định:
+ Hình thức và thủ đoạn của tội phạm: Chẳng hạn như cố ý không cung cấp thông tin, cung cấp thông tin sai sự thật, hoặc hợp tác làm rõ không trung thực, không chính xác các thông tin liên quan tới vụ án của đối tượng
+ Những đối tượng liên quan: Vụ án có thể một người hoặc có nhiều đối tượng tham gia thực hiện hành vi phạm tội.
- Nghiên cứu trước đối tượng tiếp xúc từ tài liệu, thông tin đã có.
- Từ hai cơ sở trên tìm kiếm thông tin, chứng cứ đã có cần sử dụng để tác động tới đối tượng.
- Lựa chọn địa điểm tiếp xúc: sạch sẽ, phòng dùng làm nơi thẩm vấn phải mát mẻ, không nên kín đáo quá (nên có và mở cửa sổ nhằm tác động vào tâm thế của cá nhân, tránh nảy sinh những xúc cảm ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình làm rõ sự thật), không trang trí loè loẹt...
- Lựa chọn trang phục: Tốt nhất là sử dụng trang phục của ngành, nếu sử dụng trang phục khác thì phải thể hiện gọn gàng, lịch sự, nghiêm túc; không được hở hang, khêu gợi…
- Chuẩn bị các vật dụng liên quan: Bàn ghế (nên chọn bàn hình chữ nhật không nên chọn bàn hình e líp hay tròn, vuông), giấy, bút, ghi âm (nếu thấy cần thiết)….
1.2 Giai đoạn tiếp xúc ban đầu
- Một số yêu cầu:
+ Về lựa chọn chỗ ngồi của cán bộ điều tra và người bị thẩm vấn: Nên ngồi đối diện nhau, không nên ngồi cùng phía hay gần góc bàn.
+ Vấn đề sử dụng giấy, bút trước, trong hay sau khi thẩm vấn cũng cần tính toán: Nếu lần đầu tiếp xúc hoặc với đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật lần đầu, ít giao lưu tiếp xúc xã hội… có thể chưa sử dụng giấy, bút ghi chép.
+ Hành vi đi lại của cán bộ điều tra: tự tin, đàng hoàng, đĩnh đạc; không vội vàng hấp tấp.
+ Sử dụng ngôn từ trong sáng, lịch sự; âm lượng phù hợp với đối tượng
- Một số thủ thuật tâm lý trong tiếp xúc ban đầu
+ Quan sát nhận xét sơ bộ đối tượng để định hướng tác động: Đối tượng thuộc loại “dễ xúc động” hay “chai lỳ”.
Loại “dễ xúc động”: Biểu hiện không dám nhìn xung quanh, cử chỉ bối rối, lóng ngóng, vụng về. Loại này thường là đối tượng lần đầu vi phạm vì thế cán bộ điều tra nên nhẹ nhàng, lắng nghe họ trình bày vụ việc. Người vi phạm thường xuất hiện sự biện hộ về mặt tâm lý đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác đã làm cho họ không làm chủ được mình… Vì thế, có thể làm giảm cảm xúc mạnh của đối tượng bằng cách đánh giá thấp tính chất vi phạm của đối tượng, tỏ ra phê phán người khác có liên quan nhất định tới hành vi vi phạm để thu thập thông tin...
Loại chai lỳ: Biểu hiện tỏ vẻ bình tĩnh tự tin. Loại này thường là đối tượng tái phạm. Đòi hỏi cán bộ điều tra phải có tài liệu, chứng cứ, nghệ thuật khôn khéo, mưu mẹo.
+ Thăm dò thái độ hợp tác của họ: Bằng cách dành chút thời gian hỏi thăm họ về cuộc sống trên cơ sở những ưu điểm của cá nhân và gia đình họ (Vì ai cũng có nhu cầu được khen, nhu cầu khẳng định…) hoặc tỏ vẻ “bàn luận” đôi chút về những vấn đề giống nhau, nhất là những vấn đề liên quan tới hứng thú, sở thích của họ (Con người thường hay thông cảm, dễ gần, thân thiện khi giữa họ có cái gì đó giống nhau).
+ Lựa chọn thời điểm hợp lý để chuyển chủ đề vào vấn đề cần giải quyết của buổi thẩm vấn. Lưu ý không nên ngắt lời đối tượng khi họ đang nói.
1.3 Giai đoạn khai thác thông tin
Vận dụng linh hoạt các phương pháp và thủ thuật tác động tâm lý
1.4 Giai đoạn kết thúc
- Lựa chọn thời điểm kết thúc hợp lý
- Tác động thuyết phục để đối tượng công nhận và ký vào bản khai
- Tác động thuyết phục để đối tượng thoải mái với buổi tiếp xúc và tiếp tục hợp tác nếu cần.
2. Các tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
2.1 Các phương pháp tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
- Phương pháp thuyết phục
+ Nội dung: đó là phương pháp cán bộ điều tra dùng chính nghĩa, lẽ phải, pháp luật của nhà nước, thực tế cuộc sống, đạo đức xã hội... để tác động vào nhận thức của đối tượng giúp cho đối tượng nhận rõ đúng, sai, tin tưởng vào sự khoan hồng của pháp luật đặc biệt là vấn đề thiệt, hơn về tất cả vấn đề có liên quan tới bản thân và gia đình họ; từ đó khiến cho đối tượng hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Cần nghiên cứu kỹ đặc điểm nhân thân đối tượng, hiểu rõ động cơ đang kìm hãm hành động hợp tác làm rõ sự thật.
• Kết hợp chặt chẽ với việc sử dụng chứng cứ và sử dụng mâu thuẫn.
• Cán bộ điều tra phải có sự hiểu biết sâu rộng, có năng lực phân tích lý giải với sự công minh, khách quan, tôn trọng bao dung độ lượng với đối tượng, đàng hoàng đĩnh đạc, sẵn sàng lắng nghe và giải đáp các thông tin ngược của đối tượng.
• Có thể đáp ứng những nhu cầu cần thiết, không vi phạm vào những nguyên tắc, quy định trong điều kiện đối tượng bị giam giữ.
• Có sự tương ứng về tuổi tác.
- Phương pháp tác động tình cảm
+ Nội dung: Cán bộ điều tra tác động vào đời sống tình cảm của cá nhân để họ hợp tác làm rõ sự thật theo ba hướng:
• Lợi dụng tâm trạng và tình cảm của đối tượng: hoang mang, lo sợ khi bị bắt, bị tạm giam để tấn công buộc đối tượng phải khai báo, phải hợp tác.
• Chủ động làm thay đổi những tâm trạng, tình cảm đang là động lực kìm hãm hành động hợp tác làm rõ sự thật của đối tượng (tâm trạng bi quan, thất vọng hoặc tâm trạng bình tĩnh tự tin; sợ bị trừng phạt nặng, sợ ngồi tù lâu).
• Khơi dậy những tình cảm tích cực để làm động lực khiến họ hợp tác: Tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, tình người với nhau..
+ Yêu cầu: Phải nghiên cứu nắm được tâm trạng và tình cảm cụ thể chi phối hành vi không hợp tác của đối tượng để có hướng và biện pháp tác động phù hợp.
- Phương pháp thực nghiệm cảm xúc (phương pháp thông báo, phương pháp trao tin...)
+ Nội dung: Đó là phương pháp cán bộ điều tra dùng những thông tin có liên quan đến sự kiện phạm tội, để tác động bất ngờ tới đối tượng nhằm làm xuất hiện thay đổi trạng thái cảm xúc của đối tượng, từ đó khiến cho đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật; hoặc cán bộ điều tra căn cứ vào sự thay đổi hay không thay đổi trạng thái cảm xúc của đối tượng có thể kiểm tra giả thuyết của mình về những vấn đề cần quan tâm của vụ án.
+ Yêu cầu:
• Phải biết được đối tượng sợ nhất cái gì, động cơ nào đang kìm hãm hành động hợp tác làm rõ, từ đó lựa chọn thông tin có sức nặng công phá sự ổn định tâm lý của đối tượng.
• Thông tin định đưa ra phải kiểm tra kỹ độ chính xác, có giá trị chứng minh cao hành vi phạm tội của đối tượng, làm cho đối tượng không thể thờ ơ, buộc tâm lý phải rung chuyển bộc lộ cảm xúc.
• Thông tin đưa ra phải đảm bảo yếu tố bất ngờ.
• Khi trình bày thông tin bằng vật chứng thì không nên giải thích ý nghĩa hoàn cảnh thu được thông tin đó.
• Cán bộ điều tra phải nhanh nhạy nắm được sự thay đổi trạng thái cảm xúc thể hiện ra bên ngoài (mặt tái mét, tay chân run rẩy, trán toát mồ hôi, giọng nói ấp úng…) để có tác động tiếp theo phù hợp thúc đẩy nhanh sự hợp tác làm rõ sự thật.
- Phương pháp ám thị gián tiếp
+ Nội dung: Đó là việc cán bộ điều tra đưa ra các vấn đề, các sự kiện không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, nhưng nó lại gắn bó với những bí mật về đời tư quan hệ nhất là vấn đề thuộc về mặt trái của cuộc đời tác động đến đối tượng nhằm làm cho đối tượng hiểu rằng những vấn đề bí mật ấy mà cán bộ cũng biết thì những vấn đề, tình tiết của hành vi phạm tội chắc chắn cán bộ đã biết; cùng với tác động thuyết phục của cán bộ điều tra khiến cho đối tượng hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Sự kiện đưa ra phải thuộc về bí mật đời tư quan hệ, những vấn đề không có trong hồ sơ nhân sự, trong quan hệ công khai (có thể sử dụng những tiền án, tiền sự đã xảy ra lâu ở địa phương cách xa, những biệt hiệu gắn với nhân thân của y do đồng bọn đặt cho...)
• Không sử dụng thông tin sự kiện mới, hoặc đụng chạm tới tín ngưỡng.
- Phương pháp dẫn dắt sự liên tưởng trong tư duy
+ Nội dung: Đó là cán bộ điều tra đưa ra câu hỏi hoặc những câu hỏi trong hệ thống lôgíc câu hỏi sẽ đưa ra mà câu đó liên quan đến sự kiện phạm tội. Đối tượng nghe, trả lời câu đó đồng thời dự đoán câu hỏi tiếp theo phải trả lời. Từ đó dẫn tới sự đánh giá ở đối tượng: Cán bộ đã biết hết sự kiện phạm tội, không thể chối tội được nữa và phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Thường được sử dụng trong trường hợp cán bộ có cơ sở đặt giả thuyết về mối liên hệ giữa tình tiết vụ án với hành vi phạm tội của đối tượng, nên thông tin phải có thật hoặc có cơ sở để khẳng định có mối liên quan trên.
• Khi cán bộ điều tra đặt câu hỏi phải bình tĩnh, tỏ thái độ biết rồi nhằm thúc đẩy thái độ hợp tác làm rõ sự thật
- Phương pháp đặt câu hỏi làm biến đổi tư duy của đối tượng
+ Nội dung: Đó là việc cán bộ điều tra đặt câu hỏi khác với sự chuẩn bị trước của đối tượng, làm cho đối tượng không thể sử dụng sự chuẩn bị sẵn để đối phó; từ đó tạo nên ở đối tượng sự bất ngờ lúng túng không còn sử dụng được những tình tiết giả, buộc đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Nắm hoặc dự đoán sự chuẩn bị đối phó trả lời của đối tượng
• Khi điều tra yêu cầu đối tượng trả lời ngay câu hỏi, không nên để cho đối tượng có thời gian suy nghĩ sắp đặt.
- Phương pháp đặt câu hỏi thật chi tiết xoáy sâu vào điểm đối tượng khai gian dối:
+ Nội dung: Cán bộ điều tra căn cứ vào điểm đối tượng cố tình bịa đặt để đặt nhiều câu hỏi chi tiết hỏi xoáy sâu vào vấn đề đó với tốc độ hỏi khẩn trương, yêu cầu đối tượng phải dồn dập trả lời; từ đó khiến cho đối tượng không kịp thời đối phó và nảy sinh suy nghĩ không thể lừa dối được nữa buộc đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Lấy lời khai của đối tượng và xác định được vấn đề đối tượng khai gian dối.
• Đặt nhiều câu hỏi chi tiết xoay quanh vấn đề đối tượng khai gian dối và yêu cầu đối tượng phải trả lời ngay không chậm chễ.
• Nên sử dụng phương pháp thuyết phục khi đối tượng xuất hiện sự ngập ngừng trong quá trình trả lời câu hỏi.
2.2 Những thủ thuật tác động tâm lý trong điều tra đối tượng
- Định nghĩa: Đó là những kỹ năng, kỹ xảo để thực hiện một tác động nào đó trong tình huống - hoàn cảnh cụ thể nhằm làm cho nội dung tác động đó đạt hiệu quả cao.
- Những thủ thuật:
• Lợi dụng sự mệt mỏi về thể xác và tâm lý trong quá trình giam giữ, điều tra để kích thích tâm lý khai cung.
• Tỏ ra thông cảm với tâm tư, hoàn cảnh hiện tại của đối tượng; khơi gợi để cho họ nói về thành tích, những điều tốt đẹp trong quá khứ của họ. Thủ thuật này tỏ ra có hiệu quả khi áp dụng phương pháp thuyết phục trong điều tra đối tượng.
• Cương nhu kết hợp: Bố trí cán bộ điều tra thứ nhất theo mẫu công kích điều tra nhất là đối với đối tượng ngoan cố mà không đạt kết quả thì sau đó bố trí cán bộ điều tra thứ hai với độ tuổi, cấp hàm cao hơn, tác phong ung dung điều tra theo mẫu ôn hoà: an ủi, động viên, khích lệ hứng thú...Điều này khiến cho đối tượng hợp tác, làm rõ với cán bộ điều tra thứ hai.
• Đưa ra các chứng cứ một cách lôgíc: Thường được áp dụng với đối tượng tỏ ra thờ ơ với những chứng cứ đã đưa ra, cán bộ điều tra lần lượt đưa ra tiếp những chứng cứ khác và chứng minh tính lôgíc với giọng nói tự tin quả quyết rằng: đối tượng không thể trốn tránh được tội lỗi và chỉ có một con đường là hợp tác, hợp tác làm rõ sự thật để hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
• Lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn giữa các đối tượng, nhất là vụ án có đồng phạm hoặc nhóm phạm tội.
• Bố trí hoàn cảnh ngẫu nhiên hợp lý để kích thích tâm lý khai cung của đối tượng.
• Thổi phồng gán tội thêm cho đối tượng:
Tạo ra sự kích động tâm lý khiến cho đối tượng muốn bảo vệ mình đã phải chứng minh (bằng cách khai ra) hành vi thực tế của bản thân và đồng bọn.
• Khơi dậy tính tự cao, tự đại của đối tượng:
Cán bộ tỏ vẻ thán phục tài nghệ kế hoạch sự thông minh của đối tượng, khiến cho họ tuôn ra; cung cấp nhiều chi tiết về hành vi phạm tội.
• Dương đông kích tây nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của đối tượng.
• Sử dụng quy luật của trí nhớ
Với những khoảng thời gian khác nhau, cán bộ điều tra có thể tiến hành lấy nhiều lời khai của đối tượng về quá trình xảy ra vụ việc hoặc vấn đề đang cần làm rõ. Trên cơ sở đó tìm mâu thuẫn, sơ hở trong các lời khai.
Chú ý: Cần dựa vào quy luật của sự quên để xác định sự gian dối trong các lời khai, trong đó có việc: Cá nhân thường quên chi tiết trước, còn cái cơ bản thường quên sau. Sự việc diễn ra với tốc độ không đều: ở giai đoạn đầu mới ghi nhớ tốc độ quên khá nhanh và giảm dần về sau… Chẳng hạn trong các bản khai có những đoạn, vấn đề khai như kiểu thuộc lòng thì nên xem xét kỹ vì có khả năng đối tượng đã chuẩn bị bố trí sẵn lời khai…
• Hỏi đối tượng để thu thập những tin tức thật chi tiết về hoạt động của đối tượng trước, trong và sau khi xảy ra vụ việc. Trên cơ sở đó để xác minh thời gian, địa điểm… do đối tượng khai, nhằm đấu tranh bác bỏ việc khai gian dối của đối tượng.
• Rung trà cá nhảy
• Đánh rắn động cỏ....
• Nhanh nhạy phát hiện và chỉ rõ những điểm đối tượng khai gian dối về một vài khía cạnh để làm cho đối tượng mất cơ sở, không thể bao biện là họ đang khai sự thật; từ đó điều chỉnh thái độ khi khai.
• Tác động từ từ (lấn dần): Cán bộ điều tra quan tâm từ những vấn đề, điểm ít quan trọng để đối tượng dễ dàng khai nhận, sau đó mới hỏi đến những vấn đề, điểm quan trọng nhất.
• Tỏ ra giống với đối tượng một vấn đề gì đó nhằm xoá bỏ rào cản tâm lý không cần thiết, xoá bỏ tâm thế tiêu cực không chịu hợp tác của đối tượng. Ví như tình đồng hương, những hứng thú sở thích….; từ đó cán bộ điều tra khéo léo lái đối tượng vào chủ đề mà mình quan tâm làm rõ.
Lưu ý:
Các phương pháp, thủ thuật tác động tâm lý có thể áp dụng cho phù hợp với các khách thể của hoạt động điều tra, điều này đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo của chủ thể của hoạt động điều tra.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê