1. Mở đầu vấn đề
Hiệp định thương mại tự do (tiếng Anh: free trade agreement - FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực.[1] Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Chi Lê, hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc.
Các hiệp định thương mại quốc tế thường phản ảnh các mức độ khác nhau về hội nhập kinh tế đạt được hoặc hướng tới giữa các bên. Nó được đo lường bằng quy mô của tự do hoá thương mại hoặc sự hợp tác về mặt thể chế. Việc phân loại trong đưa ra một cách thức trình bày các hiệp định thương mại và kinh tế theo “trình độ” hội nhập giữa các bên.
Các ví dụ này không đại diện cho một bức tranh đầy đủ, mà chỉ đơn thuần minh hoạ hiện tượng. Việc phân loại không nhất thiết phải đề cập đến mọi khía cạnh mà chỉ giúp chúng ta hiểu mức độ hội nhập có thể khác nhau như thế nào trong các hiệp định kinh tế và thương mại.
2. Ký kết Hiệp định giữa các quốc gia
Các hiệp định về một chủ đề có thể được ký kết giữa các nước cách xa nhau về cách địa lý và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề thương mại nhất định hoặc thậm chí buôn bán một nhóm sản phẩm riêng biệt. Các kiểu hiệp định này thường nhằm vào thương mại được “quản lý” giữa các bên, và cách thức này có thể mâu thuẫn với tinh thần và lời văn của các quy tắc thương mại đa phương.
Các hiệp định thương mại toàn diện có thể cũng khác với các hiệp định thương mại song phương, nó bảo đảm việc đối xử tối huệ quốc (MFN) đối với các nước đối tác, đối với các hiệp định đa phương có hội viên trên toàn cầu và bao hàm toàn diện, trên cơ sở các quy tắc và thủ tục được tất cả các bên tuân thủ.
3. Mục đích ký kết hiệp định giữa các quốc gia
Các hiệp định nhằm xây dựng khu vực thương mại tự do có thể được ký kết giữa hai lãnh thổ thuế quan độc lập như định nghĩa nêu trong Điều XXIV của GATT. Hiệp định như vậy thường được ký kết, nhưng không độc quyền, giữa các nước láng giềng hoặc các nước trong một khu vực địa lý. Đó cũng có thể Là những thoả thuận rộng rãi hơn trong khu vực như EFTA hay NAFTA, hoặc những thoả thuận giữa một thực thể khu vực với một nước riêng biệt như các hiệp định mậu dịch tự do EFT A hay hiệp định của Hiệp hội EC với các đối tác Trung - Đông Âu và Địa Trung Hải. Những người dự thảo hiệp định GATT thấy trước thương mại tự do sẽ dẫn đến việc dỡ bỏ các rào cản thương mại giữa các nước tham gia.
Về hoàn cảnh ra đời của Hiệp định GATS, Mặc dù đã tiến hành các cuộc đàm phán, thảo luận trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ, nhưng GATS đã không đạt được thỏa thuận trong bốn vấn đề: Viễn thông cơ bản; vận tải hàng hải; dịch vụ tài chính; di chuyển sức lao động. Thực tế có 6 vấn đề được thương lượng ngay sau khi WTO hoạt động chính thức: Trợ cấp; mua sắm công; các biện pháp tự vệ; dịch vụ chuyên ngành, tập trung chủ yếu vào vấn đề kế toán; điều kiện tiêu chuẩn cấp giấy phép; thương mại và môi trường. Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng lần thứ nhất tại Singapore tháng 12/1996, các bộ trưởng bày tỏ việc thực hiện những mục tiêu đã được thông qua nhằm thương lượng vấn đề mở cửa thị trường cho lĩnh vực dịch vụ tài chính vận tải, di chuyển sức lao động, viễn thông cơ bản. Tuy nhiên, quá trình thương lượng cho thấy còn rất nhiều khó khăn trong thương mại dịch vụ. Những kết quả cần thiết trong lĩnh vực dịch vụ cần thiết phải kéo dài quá trình đàm phán sau thời hạn qui định, ví dụ thương lượng về dịch vụ vận tải biển đã bị hoãn lại vào năm 1996, mặc dù các nhà thương lượng đã có thể thỏa thuận với nhau về một số điểm. Thương lượng về vấn đề dịch vụ tài chính, mặc dù không có sự tham gia của Mỹ, cũng đã đạt được một hiệp định tạm thời. Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng nhằm đạt được mức độ tự do hóa cao hơn trong lĩnh vực dịch vụ trên cơ sở có đi có lại với sự linh hoạt hợp lí hơn cho vòng đàm phán tiếp theo, được tiến hành tháng 01/2000. Vì vậy, các bộ trưởng hy vọng đạt được một hiệp định với các điều khoản MFN.
Nhiều khu vực thương mại tự do (FTAs) mới đây mở rộng phạm vi hàng hóa truyền thống của GATT sang thương mại dịch vụ. Điều V của GATS có tính đến việc cho phép thiết lập các hiệp định hội nhập kinh tế ưu đãi. Các bên của FTAs duy trì các chính sách thương mại đối ngoại và chế độ thuế quan riêng đối với các nước thứ ba. Trong trường hợp liên minh thuế quan, một chế độ thương mại đối ngoại chung được áp dụng trong thương mại với các nước thứ ba. Cũng có thể xảy ra việc hai hoặc vài quốc gia trong khu vực thương mại tự do ký kết như là một nhóm của FTA với nước thứ ba hay nhóm các nước khác. Một ví dụ, các nước EFTA đã thực hiện như vậy khi tham gia thành lập các quan hệ thương mại tự do với nhiều đối tác của nước thứ ba.
4. Ví dụ chứng minh qua một số hiệp định
EEC là một ví dụ kinh điển của một liên minh thuế quan với biểu thuế quan đối ngoại chung. Liên minh này đã phát triển thành một Khu vực Thị trường duy nhất với sự di chuyển tự do của hàng hoá, dịch vụ, vốn và nhân lực giữa các Quốc gia thành viên. Những quyền tự do này thực tế đã được mở rộng đến tất cả 18 thành viên của Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA). Một quy mô mới trong quấ trình hội nhập EU là sự hình thành một liên minh chính trị, nhự đã thống nhất năm 1993 bằng Hiệp ước Maastricht và còn được bổ sung tiếp trong Hiệp định Amsterdam 1997. Bước tiếp theo làm cho sự hội nhập châu Âu sâu sắc thêm từ năm 1999 với việc đưa ra đon vị tiền duy nhất (đồng Euro). Mục tiêu cuối cùng trong việc thành lập Liên minh Kinh kế và Tiền tệ (EMU) đã được tính đến trong các Hiệp ước Maastricht và Amsterdam, đang trở thành hiện thực bằng việc đưa ra đồng Euro như một đồng tiền duy nhất của các Quốc gia Thành viên EU.
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (tiếng Anh: European Economic Community, viết tắt là EEC) cũng gọi đơn giản là Cộng đồng châu Âu[1], ngay cả trước khi nó được đổi tên chính thức thành Cộng đồng châu Âu vào năm 1993, hoặc Thị trường chung (Common Market) ở các nước nói tiếng Anh, là một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1957 đem tới việc hội nhập kinh tế (gồm một thị trường chung) giữa các nước Bỉ, Pháp, Tây Đức, Ý, Luxembourg và Hà Lan.
Trong mục đích lập một Liên bang châu Âu, hai cộng đồng khác đã được đề nghị: Cộng đồng Phòng vệ châu Âu (European Defence Community, EDC) và Cộng đồng Chính trị châu Âu (European Political Community, EPC). Trong khi Hiệp ước cho các Cộng đồng nói trên được phòng nghị viện Cộng đồng Than Thép châu Âu soạn thảo, thì Nghị viện Pháp đã bác bỏ "Cộng đồng Phòng vệ châu Âu". Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean Monnet, nhân vật lãnh đạo đằng sau các cộng đồng, đã từ chức để phản đối, và bắt đầu dự kiến tạo ra các cộng đồng khác, dựa trên việc hội nhập kinh tế hơn là hội nhập chính trị.[2] Sau Hội nghị Messina (Ý) năm 1955, Paul Henri Spaak được trao nhiệm vụ chuẩn bị một bản báo cáo về ý tưởng một liên minh thuế quan (customs union). Cái gọi là Báo cáo của Spaak[3] của Ủy ban Spaak đã tạo thành nền tảng cho các cuộc thương thuyết liên chính phủ tại Lâu đài Val Duchesse (Bỉ) năm 1956. Cùng với Báo cáo của Ohlin, báo cáo của Spaak đã tạo cơ sở cho Các hiệp ước Roma.
Năm 1956, Paul Henri Spaak lãnh đạo Hội nghị liên chính phủ về Thị trường chung và Euratom tại Lâu đài Val Duchesse, để chuẩn bị cho Các hiệp ước Roma năm 1957. Hội nghị này dẫn tới việc ký kết Các hiệp ước Roma ngày 25.3.1957 để lập ra Cộng đồng Kinh tế châu Âu.
Sau đó được mở rộng thêm 6 nước khác gia nhập, và từ năm 1967, các cơ quan thể chế của Cộng đồng cũng điều khiển Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom) dưới tên Các cộng đồng châu Âu. Khi Liên minh châu Âu (EU) được thành lập năm 1993, thì "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" biến đổi thành Cộng đồng châu Âu, một trong 3 trụ cột của Liên minh châu Âu, và các cơ quan của "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" tiếp tục là cơ quan của Liên minh châu Âu.
Quá trình hội nhập kinh tế không bao giờ dễ dàng, như lịch sử đã ghi nhận, quá trình này thường kèm theo điều kiện phát triển chính trị, các quyết định, xu hướng có tính chu kỳ giống như tất cả mọi hoạt động kinh tế. Nói theo những ca từ thông dụng, có thể gọi quá trình này là “con đường dài và quanh co”. Hội nhập kinh tế thường diễn ra giữa cấc nước có mức độ phát triển kinh tế gần giống nhau, có di sản văn hoấ chung và trong một khu vực địa lý gần gũi. Mặc dù WTO đã tiến thêm để hội nhập các nước hoạt động thương mại thế giới bằng những quy tắc chung, bằng những điều kiện bình đẳng trên một phạm vi được mở rộng, nhưng còn lâu mới đạt được một khu vực thương mại tự do toàn cầu có những lợi ích đa dạng trong số lớn các thành viên rất không đồng nhất. Tự do hoá thương mại hơn nữa là một đề tài tiếp diễn trong chương trình nghị sự của WTO, nhưng quãng thời gian để thiết lập thương mại tự do về hàng hoấ, đặc biệt về nông sản - và dịch vụ có thể phải kéo dài sang Thế kỷ 21. Cựu Tổng Giám đốc WTO, ông Renaldo Ruggiero, thậm chí còn dặt mục tiêu rõ ràng cho đến năm 2020. Thời gian sẽ chứng minh lời dự báo của ông có hiện thực hay không.
5. Kết thúc vấn đề
Các lý do chính trị đôi khi có thể tạo động lực thúc đẩy nhanh hội nhập, do đó giúp tạo ra một điều gì đó, có thể rút ngắn thời gian hơn là nếu chỉ dựa vào cơ sở lợi ích kinh tế thương mại thuần tuý. Những kinh nghiệm ở châu Âu sau Chiến tranh Thế giới thứ II và sau khi hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa sụp đổ đã chứng minh điều đó.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.