1.Áp dụng UCP

  1. Các quy tắc UCP áp dụng đối với thư tín dụng

Việc áp dụng UCP có liên quan nhiều đến việc xác định thư tín dụng là gì. Khái niệm và các loại thư tín dụng sẽ được trình bày ở phần sau. UCP cũng áp dụng đối với thư tín dụng dự phòng, nhưng thực tiễn thương mại quốc tế đã chỉ ra rằng nó không phù hợp đối với loại thư tín dụng này, và các thương nhân cũng không sẵn sàng áp dụng UCP đối với thư tín dụng dự phòng. Điều đó giải thích tại sao Điều 1 của UCP quy định rằng nó chỉ áp dụng đối với thư tín dụng dự phòng ‘trong chừng mực mà các quy tắc này có thể áp dụng’.

 2. Áp dụng khi nội dung của tín dụng chỉ rõ nó là đối tượng của các quy tắc này

Tuy nhiên, vì là luật mẫu, UCP không tự động phát sinh giá trị pháp lí. Các thương nhân, hay chính xác hơn, các bên trong hợp đồng thương mại có quyền tự do đưa vào hợp đồng của mình tất cả hoặc bất kì quy tắc nào của UCP, và nếu đã đưa vào hợp đồng, thì UCP sẽ điều chỉnh tất cả các vấn đề của thoả thuận thư tín dụng chứng từ, trừ vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa người thụ hưởng và người mở thư tín dụng theo hợp đồng cơ sở, nghĩa là giữa người bán và người mua theo hợp đồng mua bán hàng hoá, vì hợp đồng này thường không đưa các quy tắc của UCP vào.

3. UCP ràng buộc tất cả các bên, trừ khi điều này bị thay đổi hoặc loại bỏ một cách rõ ràng

 Khi được đưa vào hợp đồng cơ sở, ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, UCP sẽ tự động trở thành một phần tham khảo không thể thiếu của hợp đồng, và tất cả các thuật ngữ và điều kiện được dùng trong thư tín dụng chứng từ, cũng như các điều khoản khác của UCP, sẽ trở thành thoả thuận do các bên xây dựng nên. Các thoả thuận trên ‘ràng buộc tất cả các bên’, vì thực chất chúng là một phần của hợp đồng và thoả thuận giữa người bán và người mua. Tuy nhiên, vì là các thoả thuận, nên các bên được tự do thay đổi, chỉnh sửa, bổ sung hay thậm chí cả loại bỏ việc áp dụng UCP trong thoả thuận tín dụng của mình. Nhưng thực tiễn đã cho thấy, trừ trường hợp ngoại lệ, các thương nhân không cần chỉnh sửa hay thay đổi nhiều quy tắc của UCP, vì chúng luôn trợ giúp cho sự phát triển lâu dài và bền vững cũng như sự lưu thông mạnh mẽ hàng hoá và dịch vụ trong thương mại quốc tế.

2. Định nghĩa tín dụng chứng từ

Các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã đưa ra một số định nghĩa về tín dụng chứng từ. Ví dụ, một trong những định nghĩa ngắn gọn và chính xác nhất là: thư tín dụng, về bản chất, là sự bảo đảm thanh toán của ngân hàng khi có sự xuất trình một số chứng từ nhất định. Thư tín dụng còn có thể được hiểu là thông báo của ngân hàng nhằm thanh toán cho một bên xác định hoặc người thụ hưởng, với điều kiện người thụ hưởng xuất trình các chứng từ xác định (thường đi kèm với hối phiếu ghi rõ số tiền phải trả) nhằm chứng minh rằng nghĩa vụ giao hàng đã hoàn thành. Thông báo này đề ra các điều khoản và điều kiện nghiêm ngặt cần được thực hiện. Điều 2 UCP quy định: ‘Thư tín dụng là bất cứ thoả thuận có tên gọi hoặc mô tả như thế nào, có giá trị không thể bị huỷ, từ đó xác định rõ nghĩa vụ của ngân hàng phát hành nhằm bảo đảm thanh toán khi có sự xuất trình hồ sơ phù hợp.’ Do vậy, thư tín dụng có thể được hiểu là loại tín dụng (theo định nghĩa tại Điều 2 UCP) nhằm dàn xếp việc bên mua (‘người yêu cầu’ hoặc ‘người xin mở thư tín dụng’) trả tiền cho bên bán (‘người thụ hưởng’) khi có sự xuất trình một số chứng từ xác định (đây là lí do tại sao loại tín dụng này còn được gọi là tín dụng ‘chứng từ’). Để hiểu rõ hơn khái niệm của thư tín dụng theo quy định tại Điều 2 UCP, cần làm rõ các thuật ngữ liên quan tại Điều này theo quy định của UCP như sau: - ‘Ngân hàng phát hành’ [‘Issuing bank’] là ngân hàng cung cấp thư tín dụng theo đề nghị của người yêu cầu (người mở thư tín dụng), hoặc với danh nghĩa của chính ngân hàng. - ‘Thanh toán’ [‘Honour’] nghĩa là: + Việc trả tiền ngay, nếu thư tín dụng có giá trị trả ngay. + Cam kết trả chậm và trả khi đáo hạn, nếu thư tín dụng có giá trị trả chậm. + Sự chấp nhận hối phiếu [‘draft’] do người thụ hưởng kí phát và trả khi đáo hạn, nếu thư tín dụng có giá trị chấp nhận. - ‘Xuất trình hợp lệ’ [‘Complying presentation’] là sự xuất trình [chứng từ] phù hợp với các điều kiện và điều khoản nêu tại thư tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của Quy tắc này [UCP] và với thực tiễn hoạt động ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế. Tóm lại, thư tín dụng là thoả thuận không thể bị huỷ, và xác định rõ nghĩa vụ của ‘ngân hàng phát hành’ phải ‘thanh toán’, thực chất là việc trả tiền cho giá trị hàng hoá, khi bộ chứng từ xuất trình tại ngân hàng được coi là ‘xuất trình hợp lệ’.

3.Thư tín dụng không huỷ ngang và thư tín dụng huỷ ngang

(a) Thư tín dụng không huỷ ngang (không thể bị hủy) (Irrevocable credit) Điều 3 UCP quy định rằng một thư tín dụng không thể bị huỷ ngay cả khi không có chỉ dẫn về điều này. Thư tín dụng không huỷ ngang thiết lập sự cam kết rõ ràng của ngân hàng phát hành rằng ngân hàng sẽ thanh toán cho thư tín dụng, với điều kiện các chứng từ, xác định rõ trong thư tín dụng, được xuất trình hợp lệ (Điều 2 và Điều 7(a) UCP). Trừ các trường hợp được quy định tại Điều 38 UCP (thư tín dụng chuyển nhượng), thư tín dụng không huỷ ngang không thể được sửa đổi hoặc huỷ bỏ sau khi đã được truyền đạt tới bên bán với tư cách người thụ hưởng, không cần phải có sự đồng ý của bên bán, ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận, nếu có (Điều 10(a) UCP 600). Khi thư tín dụng không huỷ ngang được phát hành dưới dạng thông báo, người thụ hưởng được bảo đảm rằng thư tín dụng đó chứa đựng cam kết rõ ràng từ phía ngân hàng phát hành, hay nói khác đi, hàm ý từ việc sử dụng thuật ngữ ‘không huỷ ngang’ có nghĩa là các hoạt động kí phát sẽ được thực hiện chi trả đúng hẹn, với điều kiện các điều khoản và điều kiện nêu trong thư tín dụng đã được thực hiện đúng. Đây là lí do tại sao những thư tín dụng này có giá trị cao trong giới thương mại, khi được phát hành bởi các ngân hàng có uy tín và là loại thư tín dụng thường được yêu cầu trong các giao dịch thương mại.

 (b) Thư tín dụng huỷ ngang (có thể bị hủy) (Revocable Credit) Thư tín dụng huỷ ngang là thư tín dụng có thể bị huỷ, hoặc các điều khoản của nó có thể được sửa đổi bất kì lúc nào mà không cần có sự đồng ý từ người thụ hưởng. Thư tín dụng huỷ ngang, do đó, không đem lại, hoặc đem lại với mức rất thấp, sự bảo vệ an toàn cho người thụ hưởng. Thư tín dụng huỷ ngang rất hiếm gặp và có xu hướng được sử dụng chỉ trong trường hợp các bên không quan tâm tới an toàn tín dụng (ví dụ, mức độ tin tưởng giữa họ là rất cao). Tuy nhiên, dễ nhận thấy rằng UCP 600 chỉ áp dụng cho thư tín dụng không huỷ ngang mà không áp dụng cho thư tín dụng huỷ ngang. Vì vậy, nếu các bên trong hợp đồng muốn sử dụng hình thức thư tín dụng huỷ ngang, họ cần chỉ rõ rằng thư tín dụng áp dụng trong giao dịch là thư tín dụng được điều chỉnh bởi UCP 500, phiên bản trước của UCP 600, có điều chỉnh thư tín dụng huỷ ngang.

4.Thư tín dụng chưa xác nhận và thư tín dụng xác nhận 

Ý nghĩa của sự ‘xác nhận’ thư tín dụng không huỷ ngang được nêu rõ, cùng với những vấn đề khác, tại Điều 2 UCP như sau: ‘Xác nhận là sự cam kết rõ ràng của ngân hàng xác nhận, ngoài cam kết của ngân hàng phát hành, nhằm thanh toán hoặc thương lượng thanh toán trên cơ sở việc xuất trình [chứng từ] hợp lệ.’ Vì vậy, trong loại thư tín dụng chưa xác nhận, chỉ có ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho người thụ hưởng, mặc dù thư tín dụng sẽ được phát hành dưới dạng thông báo bởi ngân hàng (làm nhiệm vụ) thông báo thư tín dụng tới bên bán, nhưng ngân hàng thông báo sẽ không có nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, trong loại thư tín dụng xác nhận, sẽ có thêm cam kết từ một ngân hàng không phải ngân hàng phát hành (thường là ngân hàng thông báo). Do đó, người thụ hưởng được bảo đảm rằng anh ta sẽ được hưởng thêm một cam kết thanh toán rõ ràng nữa bên cạnh cam kết của ngân hàng phát hành. Hơn nữa, điều này sẽ tạo thuận lợi cho người thụ hưởng, vì ngân hàng xác nhận (ngân hàng thông báo) thường có trụ sở tại nước sở tại, do đó làm tăng tâm lí thoải mái, tin tưởng cho người thụ hưởng. Cam kết ‘được xác nhận’ có thể được trình bày cụ thể trong thông báo tín dụng, phát hành bởi ngân hàng xác nhận. Nếu không, việc sử dụng cụm từ ‘Thư tín dụng này được chúng tôi bảo đảm’ hoặc các cụm từ tương tự, là đủ để thể hiện hàm ý cam kết từ phía ngân hàng xác nhận. (a) Thư tín dụng ‘xác nhận’ kèm theo ‘không huỷ ngang’ Thư tín dụng không huỷ ngang và được xác nhận bởi một ngân hàng uy tín có trụ sở tại nước sở tại là điều lí tưởng cho bên bán, bảo đảm rằng anh ta sẽ được trả tiền, vì thư tín dụng loại này là sự xác lập cam kết trả tiền của hai ngân hàng. Hình thức này có vị trí cao hơn thư tín dụng không huỷ ngang nhưng tốn kém hơn, do ngân hàng xác nhận sẽ tính phí xác nhận mà về bản chất là nhận rủi ro về phía mình thông qua việc cam kết trả tiền, để đổi lại phí xác nhận đó. (b) Khi nào thư tín dụng cần được ‘xác nhận’? Trong trường hợp ngân hàng phát hành là ngân hàng nổi tiếng, hạng nhất hoặc có thứ hạng cao, đặt trụ sở tại nước có môi trường kinh tế và chính trị ổn định, việc xác nhận có rất ít giá trị thực tiễn. Tuy nhiên, nếu ngân hàng phát hành ít được biết đến và là ngân hàng nhỏ, hoặc nếu nước - nơi thư tín dụng được phát hành gặp vấn đề về chính trị hoặc kinh tế, thì dễ hiểu rằng người thụ hưởng có thể tìm cách để thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng ở nước của mình, theo đó uy tín và vị trí của ngân hàng này cũng có thể được anh ta đánh giá một cách dễ dàng hơn. (c) Quy trình xác nhận thư tín dụng Việc yêu cầu ngân hàng thông báo xác nhận thư tín dụng phải được ngân hàng phát hành thực hiện. Ngân hàng phát hành sẽ chịu trách nhiệm trả phí xác nhận, trừ khi chính ngân hàng đó yêu cầu rằng người thụ hưởng sẽ phải trả khoản phí đó. Trường hợp người thụ hưởng yêu cầu xác nhận, khi nhận được một thư tín dụng không có điều khoản xác nhận, ngân hàng thông báo có trách nhiệm chuyển yêu cầu tới ngân hàng phát hành để được cấp phép xác nhận. Mặc dù ngân hàng thông báo hiếm khi từ chối yêu cầu xác nhận thư tín dụng từ ngân hàng phát hành, nhưng họ có thể từ chối xác nhận trong trường hợp không thể thoả thuận được với ngân hàng phát hành về phạm vi trách nhiệm mà ngân hàng xác nhận phải gánh chịu khi thực hiện xác nhận thư tín dụng. (d) Xác nhận ngầm Xác nhận ngầm không thuộc phạm vi điều chỉnh của UCP. Xác nhận ngầm là cam kết của một ngân hàng (theo yêu cầu của người thụ hưởng, không phải theo yêu cầu của ngân hàng phát hành hoặc được ngân hàng phát hành cấp phép xác nhận) nhằm bổ sung nghĩa vụ trả tiền của mình vào thư tín dụng căn cứ theo các điều khoản của thư tín dụng, với điều kiện các chứng từ được xuất trình theo thứ tự. Do vậy, những giao dịch này chỉ được dành riêng cho một số khách hàng nhất định, đáp ứng được các tiêu chuẩn ngặt nghèo từ phía ngân hàng. Việc cung cấp xác nhận ngầm được đánh giá và quyết định thuần túy dựa trên sự suy xét cẩn trọng của ngân hàng được yêu cầu bổ sung xác nhận ngầm.

5.Thư tín dụng trả ngay, chấp nhận và trả chậm

Căn cứ vào thời điểm bên bán có quyền nhận thanh toán, thư tín dụng có thể được phân loại như sau: - ‘Trả ngay’ (‘payment at sight’): Ngân hàng cam kết thanh toán cho bên bán (người thụ hưởng theo thư tín dụng) ngay khi chứng từ được xuất trình hợp lệ. Thông thường, ngân hàng sẽ yêu cầu bên bán kí phát một hối phiếu thanh toán ngay và xuất trình cùng với các chứng từ khác để được nhận thanh toán; - ‘Trả chậm’ (‘deferred payment’): Ngân hàng cam kết thanh toán cho bên bán tại một ngày trong tương lai được xác định căn cứ theo các điều khoản của thư tín dụng, ví dụ, 90 ngày, kể từ ngày chuyển hàng. Bất kể khi nào việc trả tiền trong tương lai của ngân hàng không phải cho một hối phiếu đã được chấp nhận (thư tín dụng theo hình thức chấp nhận), thì tín dụng đó được gọi là tín dụng trả chậm. Tín dụng này có thể được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán bởi một ngân hàng chiết khấu tham gia chuyển nhượng quyền của người thụ hưởng căn cứ theo thư tín dụng; - ‘Thư tín dụng chấp nhận’ (‘acceptance credit’): Ngân hàng cam kết chấp nhận hối phiếu kí phát bởi bên bán. Hối phiếu thường ở dạng thanh toán trong tương lai. Do vậy, bằng việc chấp nhận hối phiếu, ngân hàng đồng ý trả tiền trên mệnh giá của hối phiếu khi đến hạn thanh toán cho bên xuất trình hối phiếu. Giữa thời điểm chấp nhận và hạn thanh toán của hối phiếu, bên bán có thể chiết khấu cho ngân hàng của anh ta để nhận tiền mặt.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)