- 1. Các quyền con người cần được tôn trọng và bảo đảm một cách bình đẳng
- 2. Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm của mỗi quốc gia
- 3. Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người gắn liền với việc bảo vệ và thúc đẩy hòa bình
- 4. Đối thoại và hợp tác quốc tế là yêu cầu cần thiết, khách quan để bảo vệ và thúc đẩy
- 5..Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Việt Nam
1. Các quyền con người cần được tôn trọng và bảo đảm một cách bình đẳng
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định: “…cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng... Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền t ự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh t ế, xã h ội và văn hoá c ủa cả c ộng đồng là cách đề cập phi ến diện, không phản ánh đầy đủ b ức tranh toàn cảnh về quyền con người” .
Về vấn đề trên, quan điểm chung trên thế giới cho rằng, một trong nh ững tính ch ất cơ bản của quyền con người là tính không thể phân chia (indivisible) ( đã đề cập ở Chương II), thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế b ất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu c ực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển c ủa con người.
2. Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm của mỗi quốc gia
Sách trắng về thành t ựu quyền con người c ủa Việt Nam khẳng định: “... việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là H ến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảo đảm cho người dân được th ụ hưởng quyền con người một cách tốt nh ất”
Về vấn đề trên, quan điểm chung trên th ế gi ới cho rằng, ch ủ thể c ơ bản có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người (duty-bearers) là các nhà nước (states) mà c ụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay nh ững người làm việc cho các cơ quan nhà nước (nhóm này được gọi chung là các chủ thể nhà nước (state actors)2. Tuyên ngôn về quyền và trách nhiệm của các cá nhân, các nhóm và các tổ chức xã hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản cũng nh ấn mạnh trách nhiệm và nghĩa vụ c ủa Nhà nước trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các tự do cơ bản.
3. Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người gắn liền với việc bảo vệ và thúc đẩy hòa bình
Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người gắn liền với việc bảo vệ và thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, bình đẳng và cuộc sống phồn vinh ở mỗi quốc gia và trên thế giới
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định: “Trong một thế giới tùy thu ộc lẫn nhau, các quyền con người chỉ có thể được tôn trọng và bảo vệ trong một môi trường hòa bình, an ninh, bình đẳng và phát triển bền vững, trong đó các giá trị nhân bản được tôn trọng và bảo vệ. Cuộc đấu tranh vì các quyền con người cần tiến hành đồng th ời với các biện pháp ngăn chặn các cu ộc chi ến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia... đang hàng ngày, hàng giờ đe doạ hòa bình, an ninh, độc lập và phồn vinh của mọi quốc gia, ngăn cản việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới”
Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam (trình bày tại phiên họp tháng 5 năm 2009 của Hội đồng Liên hợp quốc về quyền con người) cũng khẳng định: “Qua thực tiễn, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiểu rõ quyền con người gắn với độc lập, hòa bình, dân chủ và phát triển. Việc duy trì một môi trường hòa bình, ổn định từ khi đất nước thống nhất năm 1975 đến nay là một thành tựu to lớn và cũng là nền tảng vững chắc cho việc bảo vệ và thực hiện các quyền con người ở Việt Nam. Trong công cuộc Đổi mới, những điều chỉnh vĩ mô và các chương trình kinh tế xã hội được chú trọng nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Những kết quả này đã tạo tiền đề cần thiết cho việc thực hiện các quyền của người dân trên mọi lĩnh vực.
Ở cấp độ quốc tế, mối quan hệ giữa việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người với việc bảo vệ và thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, bình đẳng và cuộc sống phồn vinh ở mỗi quốc gia và trên thế giới cũng được thể hiện một cách trực tiếp và gián tiếp trong nhiều văn kiện của Liên hợp quốc và của các tổ chức liên chính phủ khác. Nhìn chung, theo quan điểm của cộng đồng quốc tế, để hiện thực hóa các quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, các nhà nước và cộng đồng quốc tế cần có những nguồn lực vật chất mà chỉ có thể có được nhờ sự tăng trưởng kinh tế. Theo nghĩa này, tăng trưởng kinh tế có thể coi là một phương tiện quan trọng để hiện thực hóa các quyền con người. Trong khi đó, thực tế trên thế giới đã chứng minh rằng, tăng trưởng kinh tế không thể có được trong bối cảnh hỗn loạn, bất ổn định về chính trị, chia rẽ do bất bình đẳng trong xã hội
4. Đối thoại và hợp tác quốc tế là yêu cầu cần thiết, khách quan để bảo vệ và thúc đẩy
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định: “Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người. Việt Nam cũng cho rằng không nước nào có quyền sử dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại... với nước khác”
Trong Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam khẳng định: “Việt Nam hết sức coi trọng đối thoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người. Đối thoại và hợp tác quốc tế vừa là đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, vừa giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau; qua đối thoại và hợp tác quốc tế, Việt Nam đã giúp bạn bè và cộng đồng quốc tế hiểu hơn về tình hình và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, vừa là cơ hội để Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật, bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam và đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ quyền con người trong khu vực và trên thế giới”
Ở cấp độ quốc tế, vấn đề đối thoại và hợp tác trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là khía cạnh được đề cập một cách trực tiếp và gián tiếp trong hầu hết các văn kiện quốc tế về vấn đề này và được Liên hợp quốc đặc biệt khuyến khích. Để thúc đẩy quá trình đó, Liên hợp quốc đã xác lập một số cơ chế để tạo điều kiện cho các quốc gia, các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ và cả các cá nhân được trao đổi, thảo luận trên tinh thần xây dựng về vấn đề này như cơ chế thông qua diễn đàn Đại hội đồng Liên hợp quốc, cơ chế thông qua các hội nghị quốc tế do Liên hợp quốc tổ chức, cơ chế tham vấn của ECOSOC, cơ chế của Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc, cơ chế của một số ủy ban giám sát thực hiện các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người...
5..Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Việt Nam
B ảo vệ và thúc đẩy quyền con người là m ục tiêu c ủa Đảng và Nhà nước Việt Nam, là yêu c ầu trong xây d ựng Nhà nước pháp quyền và là động l ực cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước . Về v ấn đề này, nguyên T ổng bí th ư Đỗ Mười đã t ừng nh ấn mạnh: “Chúng ta phải nhận th ức cho thật rõ quyền con người, nói m ột cách c ụ thể h ơn, việc bảo vệ và tăng cường s ự hưởng th ụ quyền con người ở nước ta, là sự nghiệp c ủa Đảng ta, c ủa Nhà nước và nhân dân ta. Chúng ta theo đu ổi sự nghiệp này vì nó không thể tách r ời với m ục tiêu c ủa s ự nghiệp cách mạng c ủa chúng ta là làm cho m ỗi người và m ọi người phát triển t ự do và toàn diện. S ự nghiệp này ph ục vụ cho l ợi ích c ủa bản thân chúng ta, không phải vì s ức ép c ủa bên ngoài. Không nhận th ức được điều này sẽ dễ có t ư tưởng đối phó, cách làm chi ếu lệ và thái độ bao biện”
Sách trắng về thành t ựu quyền con người c ủa Việt Nam khẳng định: “Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là m ục tiêu, v ừa là động l ực c ủa s ự nghiệp xây d ựng đất nước. Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm c ủa các chính sách kinh t ế - xã h ội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân t ố quan tr ọng cho s ự phát triển bền v ững, bảo đảm thắng l ợi s ự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. M ọi ch ủ trương, đường l ối, chính sách c ủa Việt Nam đều nhằm ph ấn đấu cho m ục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã h ội công bằng, dân ch ủ, văn minh”, t ất cả vì con người và cho con người”.2 Văn kiện Đại h ội đại biểu toàn qu ốc lần th ứ X c ủa Đảng C ộng sản Việt Nam c ũng nêu rõ: “Xây d ựng Nhà nước pháp quyền Xã h ội Ch ủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu b ức thi ết c ủa xã h ội; Nhà nước phải thể ch ế hoá và t ổ ch ức th ực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người”.3 Theo Báo cáo qu ốc gia kiểm điểm định kỳ việc th ực hiện quyền con người ở Việt Nam: “Trải qua lịch s ử đấu tranh giành độc lập, t ự do, nhân dân Việt Nam trân tr ọng giá trị thiêng liêng của các quyền con người, trước h ết là quyền dân t ộc t ự quy ết, quyền tự do quy ết định vận mệnh c ủa mình, quyền được s ống trong s ự tôn tr ọng nhân phẩm. Bản Hi ến pháp đầu tiên năm 1946 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khắc ghi nh ững quyền này. Qua quá trình hoàn thiện để đáp ứng tình hình đất nước, các bản Hi ến pháp năm 1959, 1980 và đặc biệt là Hi ến pháp 1992 (s ửa đổi, b ổ sung năm 2001) không chỉ th ừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù h ợp v ới luật pháp qu ốc t ế mà còn khẳng định rõ: Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền c ủa dân, do dân và vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ng ừng phát huy quyền làm ch ủ về m ọi mặt c ủa nhân dân”.Bản Báo cáo c ũng nêu rõ: “Nhà nước Việt Nam coi con người là m ục tiêu và động l ực c ủa m ọi chính sách phát triển kinh t ế - xã h ội...” T ất cả nh ững điều trên cho th ấy, Đảng C ộng sản và Nhà nước Việt Nam coi việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là m ục tiêu nh ất quán của ch ế độ, là yêu cầu trong xây d ựng Nhà nước pháp quyền và là động lực cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. C ũng t ừ nh ững điều trên, có thể th ấy quan điểm c ủa Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người về c ơ bản là trùng lặp v ới quan điểm c ủa c ộng đồng qu ốc t ế trên lĩnh vực này.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)