1. Các tiếp cận hiện đại về điều tiết
Tiếp cận kinh tế, chính trị đối với điều tiết cho thấy bất kỳ liên minh hiệu quả nào cũng mang đến điều tiết qua quá trình chính trị. Chẳng hạn, quan điểm này cho rằng điều tiết có thể đạt được bằng một số ngành công nghiệp bất kể liệu phí tổn dài hạn của doanh nghiệp có đang giảm dần khi bị nhiều trở ngại ở đầu ra hay không. Có hay không các điều kiện độc quyền tự nhiên, nói cách khác không phải là cơ sở giải thích điều tiết chính phủ. Thay đổi kiềm chế mà các nhà cung cấp và người có nhu cầu điều tiết đang đối mặt là biện pháp duy nhất để thu nhỏ hoạt động. Nhưng nếu điều kiện độc quyền tự nhiên (phí tổn biên tế giảm dần, sự cố định vốn tăng) đang có mặt thì sao?
Lý thuyết điều tiết Chicago sẽ giải quyết được câu hỏi này. Theo quan điểm phát sinh từ đánh giá vấn đề tương tự của Sir Edwin Chadwick trong thế kỷ 19, Harold Demsetz năm 1968 đặt nghi vấn sự cần thiết điều tiết (theo kiểu truyền thống) các ngành công nghiệp đang có những nền kinh tế sản xuất quy mô (Why Regulate Utilities). Demsetz đề xuất điều tiết hiệu dụng chính thức được cho là không cần thiết nơi chính phủ thừa nhận “những đối thủ cạnh tranh” đưa ra quyền độc quyền cung cấp hàng hóa hay dịch vụ qua một số giai đoạn “hợp đồng” vô hạn định. Trong một hệ thống như thế, như Demsetz chứng minh, sự tồn tại độc quyền tự nhiên không ngụ ý giá độc quyền và đầu ra, dựa vào (1) cung co dãn của những ra giá tiềm năng và (2) phí tổn thông đồng ngăn cấm về phía các nhà cung cấp tiềm năng.
2. Sơ đồ Demsetz
Trong một số điều kiện hạn chế, giá “cạnh tranh” và đầu ra có thể đạt được theo sơ đồ Demsetz. Giới phê bình cho rằng quan điểm này đặt vấn đề sơ đồ như một thay thế cho hình thức điều tiết truyền thông và họ viện dẫn vấn đề tính không chắc chắn của thị trường, thông tin và phí tổn quản lý, tiêu chuẩn đầu tư và v.v... như lập kế hoạch không thể khả thi trong thực tế. Quyền sở hữu của chính phủ một số quyền sở hữu tài sản cơ bản cũng đi kèm với sơ đồ này. Tất cả điều này dù sao cũng có phần nào không liên quan vì có thể Demsetz không hề có dự định dùng khái niệm của mình để phục vụ như “lý thuyết điều tiết Chicago”. Không có nhiều sự ủng hộ thực nghiệm đối với sự tồn tại độc quyền tự nhiên trong hiệu dụng và các ngành công nghiệp điều tiết khác, và “quan điểm Chicago” - nếu có quan điểm thống nhất - là sự bãi bỏ điều tiết và sự trở lại cạnh tranh đến với hoạt động điều tiết nhất cải thiện phúc lợi của người tiêu dùng.
3. Quan điểm của Victor Goldberg
Quan điểm đương đại sau cùng về quá trình điều tiết đã mở rộng đường hỗ trợ điều tiết. Quan điểm của Victor Goldberg (Regulation and Administered Contracts) cho rằng sự điều tiết rất giống với các hợp đồng công hay tư phải phục vụ và được phục vụ. Ngoài ra, ông lập luận rất nhiều phức tạp liên kết với hợp đồng dài hạn có thể cung cấp sự hợp lý điều tiết. Phân tích của Goldberg phần lớn liên quan đến độc quyền tự nhiên, mặc dù nghiên cứu của ông cũng quan trọng đối với điều tiết các ngành công nghiệp khác.
Có sự tương đồng giữa quá trình điều tiết và mối quan hệ dài hạn tạo cho các nhà cung cấp quyền phục vụ và người tiêu dùng quyền được phục vụ. Do tính không chắc chắn và vấn đề khác, cả hai đối tác trước tùy chọn tương lai hạn chế hợp đồng để đạt được tính tối ưu qua thời gian (tất cả lý thuyết khác xét trong chương này đều mang tính tĩnh và không mang ngụ ý liên kết thời gian). Hợp đồng, hay điều tiết, theo quan điểm của Goldberg, với người tiêu dùng. Trái lại cũng đúng đối với quyền lợi của người tiêu tạo ra cơ cấu quá trình nhằm phân xử những ngẫu nhiên tương lai. Tăng quyền lợi phục vụ của nhà sản xuất để làm hợp đồng hấp dẫn hơn đối với nhà sản xuất trong khi cùng lúc làm cho hợp đồng kém hấp dẫn hơn đối dùng trong quyền lợi được phục vụ. Theo lời của Goldberg: “Người tiêu dùng muốn được tự do kết thúc hợp đồng sao cho họ có thể lợi dụng giá thấp và/hoặc công nghệ cao cấp như có thể. Biến số duy nhất thuộc quyền kiểm soát của đại lý là mức độ tạo ra quyền phục vụ. Sự bảo vệ tối ưu sẽ là bảo vệ ở mức lợi ích biên tế đối với người tiêu dùng gia tăng sự ổn định và giảm bớt rủi ro của nhà sản xuất (giá thấp hơn) chỉ được bù đắp bằng phí tổn biên tế dự kiến với tính linh động giảm dần”. (Regulation and Administered Contracts, trang 433).
Vì thế biện minh điều tiết của Goldberg cho rằng hợp đồng dài hạn khó xác định và thi hành vì rất tốn kém khi phân định, dự kiến, nhiều điều khoản của nó. Nhóm điều tiết là một cơ quan giám sát phát triển liên tục xác định liên tục mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất qua thời gian theo cách giống với các tòa án thông luật liên tục giải thích quyền lợi và nghĩa vụ của công dân đối với các công dân khác và nhà nước. (Goldberg không lạc quan về tính hiệu quả của việc ký hợp đồng cá nhân trong luật pháp hợp đồng công). Goldberg không chứng minh trường hợp dành cho điều tiết. Không có thị trường thất bại nào được viện dẫn. Nhưng ông chứng minh một khả năng lý thú. Với người tiêu dùng chịu rủi ro bất lợi và tính cố định vốn, một số điều tiết có thể thích hợp khi xét qua thời gian. Dĩ nhiên, những quan điểm này rất tương phản với quan điểm phát triển trước đây.
4. Quan điểm của Schumpeter về quá trình thị trường
Lập luận về tính tối ưu điều tiết giữa thời gian với nhau và các vấn đề rủi ro và tính không chắc trong khi ký hợp đồng dài hạn có thể tìm thấy trong tài liệu kinh tế sớm hơn nhiều so với tác phẩm đương đại của Goldberg và những người khác. Đầu thế kỷ này, Joseph Schumpeter mô tả hàm thị trường như một quá trình cạnh tranh giữa thời gian với nhau ngụ ý một vấn đề nhất định về vai trò điều tiết của chính phủ. Theo Schumpeter, rủi ro là không thể tránh được và cũng là yếu tố tự nhiên trong hoạt động thị trường. Schumpeter thảo luận tính tới hạn của rủi ro và tính không chắc chắn cũng như vấn đề chúng nêu ra cho các nhà doanh nghiệp trong xã hội tư bản chủ nghĩa:
“Trong thực tế đầu tư bất kỳ đòi hỏi... một số hoạt động bảo vệ chẳng hạn như bảo hiểm hay mua bán đối xung. Đầu tư dài hạn trong điều kiện thay đổi nhanh chóng, nhất là chịu... tác động của nhiều hàng hóa và công nghệ mới, cũng giống như nhắm vào mục tiêu không những khó thấy mà còn đang di chuyển - và sự di chuyển thật nhát gừng. Do đó nhất thiết phải viện đến những công cụ bảo vệ như những giấy chứng nhận độc quyền hay tiết lộ nhất thời các quá trình hay trong một số trường hợp, hợp đồng dài hạn trước hết phải được đảm bảo. Nhưng những công cụ bảo vệ này mà hầu hết các nhà kinh tế học thừa nhận như những yếu tố quản lý hợp lý bình thường chỉ là những trường hợp đặc biệt của một nhóm lớn hơn...
Chẳng hạn, nếu rủi ro chiến tranh không thể bảo hiểm, thì không ai phủ nhận việc tập hợp phí tổn bảo hiểm này từ người mua sản phẩm. Nhưng rủi ro ấy không gì thấp hơn yếu tố phí tổn dài hạn, nếu không có điều kiện thuận lợi nào để bảo hiểm chống lại nó, trong trường hợp này chiến lược giá nhắm đến cùng mục tiêu có vẻ bao gồm những hạn chế không cần thiết và tạo ra lợi nhuận quá mức. Tương tự, nếu giấy chứng nhận độc quyền không để bảo đảm được hay không bảo vệ hiệu quả nên sử dụng các biện pháp khác để chứng minh đầu tư là đúng. Trong số này gồm chính sách giá tạo cho đầu tư có khả năng bị xóa sổ nhanh hơn nếu không phải là sự đầu tư hợp lý hay bổ sung để cung cấp khả năng quá mức được sử dụng để tấn công hay phòng thủ. Thêm một lần nữa, nếu hợp đồng dài hạn không thể đưa vào từ trước, thì những biện pháp khác phải được nghĩ ra để ràng buộc khách hàng sau này với doanh nghiệp đang đầu tư” (Capitalism, Socialism and Democracy, trang 88).
Vấn đề Schumpeter nhấn mạnh trong đoạn trích trên là yếu tố cạnh tranh có vẻ như chống cạnh tranh xét từ quan điểm tĩnh thuần túy (ví dụ giấy chứng nhận độc quyền, v.v...) có thể là yếu tố tiến bộ trong bố cục cạnh tranh năng động hơn. Nêu một vài điều kiện hạn chế về ảnh hưởng bất lợi của cartel, Schumpeter mô tả nhiều thông lệ “độc quyền” tĩnh như các công cụ cạnh tranh năng động học (dài hạn) tự nhiên. Nhưng ông cũng cảnh giác trước khả năng có thể sử dụng quá trình điều tiết để phá hoại ảnh hưởng phúc lợi thương trường. Vì chính phủ là nguồn đặc ân đặc quyền duy nhất thường trực, hành động điều tiết của chính phủ nên tập trung nghiên cứu:
“Khả năng khai thác sự thích thú theo mẫu nhu cầu nhất định... có thể trong điều kiện chủ nghĩa tư bản còn nguyên vẹn hầu như không thể dai dẳng trong thời gian dài đủ mang ý nghĩa quan trọng cho việc phân tích tổng đầu ra, trừ phi được gia cố bằng chính quyền ... Ngay cả đường sắt, điện, đèn liên quan trước tiên phải hình thành nhu cầu cho dịch vụ của họ và khi làm như thê' xong, phải bảo vệ thị trường của mình chống lại cạnh tranh” (Capitalism, Socialism, and Democracy, trang 99).
5. Cạnh tranh “tĩnh” và cạnh tranh “động”
Quan điểm của Schumpeter về quá trình thị trường đưa ra sự phân định rõ ràng giữa cạnh tranh “tĩnh” và cạnh tranh “động”. Hạn chế cạnh tranh không phải của chính phủ khi xét theo nghĩa tĩnh thường được xem là dưới mức tối ưu, khi thực tế chúng có thể giúp điều tiết sự giới thiệu công nghệ mới cải thiện phúc lợi kinh tế. Một mặt điều tiết chính phủ là nguồn tiền tố quan trọng dài hạn liên kết với những hạn chế đầu ra và tổn thất phúc lợi.
Cuối cùng, tranh luận về quá trình thị trường tự nhiên so với điều tiết là tranh luận về tính hiệu quả kinh tế. Schumpeter và các nhà kinh tế học khác cho rằng trước khi ký hợp đồng có thể là phản ứng tự nhiên đối với tính không chắc chắn và rủi ro liên quan đến hình thức bảo hành, đảm bảo, hợp đồng tương lai, v.v... Các nhà kinh tế học khác thiên về việc giảm rủi ro và tính không chắc chắn thông qua điều tiết chính phủ. Thị trường có tạo ra cầu nối cần thiết giữa cung cấp hiện tại và tương lai cho xã hội ở phí tổn thấp hơn các biện pháp của chính phủ nhắm đến cùng mục tiêu hay không? Đây là vấn đề vẫn đang tranh cãi sôi nổi. Chỉ có nghiên cứu được tiến hành chu đáo, xét từng trường hợp, mang tính thực nghiệm có vẻ có khả năng tạo ra sự ủng hộ thuyết phục đối với quan điểm này hay quan điểm khác. Thiếu tài liệu hoàn chỉnh như thế, khả năng nhận thức của Schumpeter kết hợp lý thuyết điều tiết hiện đại, nhắc chúng ta rằng sự tồn tại điều tiết đơn thuần và các vấn đề sản xuất và tiêu dùng giữa thời gian với nhau không hình thành chứng cứ cho rằng thị trường không hoạt động thích hợp.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)