1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi nào thì được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật lao động của Việt Nam ? Cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 36, Bộ luật lao động năm 2012 về Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, thời hạn của hợp đồng được xác định theo loại hợp đồng mà hai bên đã ký kết, có 3 loại hợp đồng lao động:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn: hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Quy định này không áp dụng với đối tượng người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu (Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi)

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải khi có một trong các hành vi như sau:

- Trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

- Bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

- Tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng. Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có một trong các lý do sau:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Những lý do trên được áp dụng với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì không cần phải đáp ứng những lý do trên.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người lao động phải thực hiện thủ tục thông báo trước cho người sử dụng của mình, cụ thể: ít nhất 3 ngày với hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng; 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn 12 đến 36 tháng; 45 ngày với hợp đồng lao động không xác định thời hạn

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có một trong các lý do sau:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này:

Cũng giống như người lao động, nếu người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng thì cũng phải thực hiện việc báo trước: ít nhất 3 ngày với hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng; 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn 12 đến 36 tháng; 45 ngày với hợp đồng lao động không xác định thời hạn

11. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trân trọng!

2. Nên làm gì khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi là nhân viên hợp đồng có thời hạn (1 năm ký 1 lần) đang công tác tại chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tp. Cần thơ được 3 năm. Hiện tôi đang nghỉ thai sản đến hết tháng 4. 2018 và tháng 5. 2018 sẽ đi làm trở lại. Đến hết tháng 8. 2018 sẽ hết hạn hợp đồng. Ngày 19. 4.2018 tôi nhận được thông báo của phòng hành chính về việc chấm dứt hợp đồng bắt đầu từ ngày 1. 5. 2018. Lý do đưa ra là đang tinh giảm biên chế. Cắt hết các hợp đồng dù bầu bì hay thai sản và tôi không được nhận trợ cấp thôi việc. Và nói rằng tôi được nhận bảo hiểm thất nghiệp (tôi đóng bhxh từ tháng 9. 2016). Theo tôi được biết thì trường hợp của tôi là trái với luật lao động.
Xin luật sư tư vấn về vấn đề của tôi và tôi nên làm gì ?

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Bạn nói rằng hằng năm bạn đều ký kết lại hợp đồng 1 năm với bên đơn vị mà không phải hợp đồng không xác định thời hạn nên bạn sẽ không phải thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của hợp đồng 68 được hướng dẫn theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP.

Mà theo chính sách và văn bản hướng dẫn về việc cắt giảm biên chế thì các đối tượng bị cắt giảm biên chế gồm các đối tượng sau:

1. Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã;
2. Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập;
3. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và theo các quy định khác của pháp luật.
4. Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, kiểm soát viên trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu (không bao gồm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo chế độ hợp đồng lao động).
5. Những người là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước.
6. Người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao tại các hội.
Xét theo quy định thì bạn không phải thuộc đối tượng trên nên sẽ không phải thuộc đối tượng tinh giảm biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.Việc có tiếp tục hợp đồng làm việc với bạn nữa hay không sẽ tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng ng]ì lao động của đơn vị và căn cứ vào quy định của Bộ luật lao động và chính sách của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi bạn đang làm việc có những chính sách để phù hợp với các chính sách chung của nhà nước.
Bên đơn vị có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng với bạn nếu có lý do

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định.

Nhưng bạn không thuộc các trường hợp trên nếu bên đơn vị muốn chấm dứt hợp đồng với bạn trước thời hạn thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái với quy định thì bạn được hưởng các quyền lợi sau:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định trên và trợ cấp thôi việc theo quy định, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Vì hợp đồng của bạn là hợp đồng xác định thời hạn 1 năm nên đơn vị phải thông báo trước 30 ngày trong khi đơn vị chỉ có báo trước 11 ngày nên đơn vị phải bồi thường tiền cho bạn những ngày không báo trước là 19 ngày và các khoản nêu trên gồm trợ cấp thôi việc và ít nhất 2 tháng tiền lương bồi thường. Vì đối tượng tinh giản biên chế chỉ áp dụng cho các đối tượng nêu trên ở Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Bộ luật lao động năm 2012. Nếu đến hết hạn hợp đồng mà đơn vị không ký tiếp thì không có vi phạm mà chỉ cần báo trước 15 ngày trước khi hết hạn hợp đồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

3. Người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có nghĩa vụ gì ?

Thưa luật sư, tôi được nhận vào làm tại công ty từ ngày 22/7/2015 và thử việc 02 tháng đến ngày 22/9/2015 tôi được ký hợp đồng 01 năm với công ty (từ 22/9/2015 - 22/9/2016).
Đến ngày 10/4/2016 do tình hình kinh tế khó khăn công ty không có việc làm nên công ty muốn chấm dứt hợp đồng với tôi. Khi đưa ra thảo luận thì công ty nói không phải đền bù gì cho tôi khi tôi làm việc cho công ty chưa đủ 12 tháng. Và công ty nói chỉ hỗ trợ cho tôi 30% lương cơ bản. Trong thời gian làm việc tôi luôn hoàn thành công việc của mình. Không hề vi phạm lỗi gì của công ty. Vậy công ty làm như vậy đúng hay sai. Và nếu công ty làm sai thì tôi được hưởng quyền lợi gì. Tôi rất mong được giải đáp sớm.
Tôi xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Khuê. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Điều 44: Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu công nghệ hoặc vì lý do kinh tế:

1 Trong trường hợp thay đổi cơ cấu công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

2 Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ bị mất việc làm, phài thôi việc thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.".

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, trước đây bạn đã ký hợp đồng lao động với công ty trong thời hạn 1 năm tuy nhiên đến ngày 10/4/2016 do tình hình kinh tế khó khăn công ty không có việc làm nên công ty muốn chấm dứt hợp đồng với bạn. Khi đưa ra thảo luận thì công ty nói không phải đền bù gì cho bạn và chỉ hỗ trợ cho bạn 30% lương cơ bản thì việc làm của công ty bạn là đúng với quy định của pháp luật. Bởi vì lúc này bạn vẫn chưa làm việc tại công ty từ đủ 12 tháng trở lên nên khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn bạn sẽ không được hưởng trợ cấp mất việc làm được quy định tại Điều 49 Luật lao động (điều kiện để được hưởng trợ cấp mất việc làm là người lao động phải làm việc thường xuyên từ 12 tháng trở lên).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào đúng luật ?

Thưa Luật sư, hợp đồng lao động của em được ký từ ngày 10/11/2015 đến 9/11/2016. Do sức khỏe em không tốt nên muốn chấm dứt hợp đồng từ 1/1/2016. Vậy em làm thế nào để không vi phạm hợp đồng. Em đã điều trị bệnh đau nửa đầu và sỏi thận từ 30/9/2015 đến nay.
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào đúng luật ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 37 Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13 quy định:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, theo dữ liệu bạn đưa ra thì hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động xác định thời hạn do đó khi đơn phương chấm dứt hợp đồng bạn phải báo trước cho người sử dụng lao động trước 30 ngày. Ngoài ra bạn cần phải đưa ra lý do để đơn phương chấm dứt hợp đồng, lý do này phải đáp ứng theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê