1. Đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động là gì ?

Khái niệm về đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động được hiểu như sau:

Đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động là chấm dứt hợp đồng lao động do có sự thoả thuận của các bên, do ý chí của người thứ ba có thẩm quyền hoặc trong trường hợp người lao động chết.

Đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động được sử dụng để phân biệt với các trường hợp một bên của hợp đồng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt trong các trường hợp: hợp đồng hết hạn, hoàn thành công việc theo hợp đồng, hai bên thoả thuận chấm dứt, người lao động chết hoặc bị toà án kết án tù giam, tuyên bố chết, mất tích.

Nếu có căn cứ đương nhiên chấm dứt thì hợp đồng lao động có thể chấm dứt ngay, không phải báo trước và không cần thực hiện bất cứ thủ tục nào.

2. Điều kiện được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Em làm việc tại 1 công ty loại hợp đồng có xác định thời hạn, tiền lương hàng tháng tra vào ngày 30. Tuy nhiên, tiền lương hàng tháng em được lãnh bị trễ hơn so với thỏa thuận trong hợp đồng. Do vậy qua 3 tháng làm việc em quyết định gửi đơn xin thôi việc.
Vậy cho em hỏi là em chấm dứt hợp đồng là đúng hay sai?
Cảm ơn!

Tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bạn không nêu rõ hợp đồng lao động mà bạn ký kết với công ty là hợp đồng nên:

TH1: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì bạn phải báo trước 45 ngày cho công ty mà không cần căn cứ:

Căn cứ khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động số 10/2019

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.

TH2: Hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động mùa vụ hoặc hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng thì:

Căn cứ Điều 96 Bộ luật lao động năm 2019:

Điều 94. Nguyên tắc trả lương

Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Như vậy, về việc trả lương cho người sử dụng lao động phải trả trực tiếp. đầy đủ và đúng thời hạn. Tuy nhiên người sử dụng lao động có thể trả chậm trong thời hạn không quá một tháng theo hợp đồng lao động. Vì vậy bạn cần xem xét, thời hạn trả trễ của công ty bạn với đã vi phạm quy định về nguyên tắc nêu trên hay không. Khi mà vi phạm nguyên tắc đó thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019:Với trường hợp này bạn phải thực hiện thủ tục báo trước

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

 

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn của người lao động ?

3. Quyền người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Kính chào luật sư! Em có một thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp ạ! Em làm cho công ty gần 2 năm, ký hợp đồng không xác định thời hạn,làm việc 8h/ngày, 6 ngày/tuần nhưng thực tế 9h/ngày, thỉnh thoảng làm chủ nhật ( công ty có thêm biên bản thỏa thuận là người lao động tự nguyện nộp bằng gốc, trong thời gian 5 năm đơn phương chấm dứt hợp đồng không có lý do chính đáng sẽ hoàn trả lại toàn bộ tiền lương trong 1 năm đầu).
1. Nếu em tự ý nghỉ việc không báo trước cho công ty thì em có khả năng bị xử lý như thế nào?
2. Em báo ốm ở công ty rồi cứ thế nghỉ luôn, qua công ty khác làm có thể đóng mới sổ bảo hiểm mà không liên quan tới công ty cũ được không ạ, thủ tục như thế nào?Nếu công ty cũ phát hiện đi làm chỗ khác thì e có khả năng bị phạt gì không ạ ?
3. Em xin chuyển công tác sang công ty khác ngành khác tỉnh, có giấy tiếp nhận của đơn vị mới thì có vi phạm luật và phải bồi thường gì không ạ.Có giấy tiếp nhận đi làm luôn của đơn vị mới thì có phải chờ đợi 45 ngày báo trước ?
4. Em muốn nghỉ việc luôn thì nên làm thế nào để không bị phạt, không phải chờ đợi 45 ngày, rút được sổ bảo hiểm ?
Em mong sớm nhận được tư vấn của luật sư.

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

Theo như những gì em trình bày thì hợp đồng lao động của em có điểm cần lưu ý, và một số vi phạm sau:

1. Việc Em làm cho công ty gần 2 năm, ký hợp đồng không xác định thời hạn,làm việc 8h/ngày, 6 ngày/tuần nhưng thực tế 9h/ngày, thỉnh thoảng làm chủ nhật thì em nên yêu câu công ty trả tiền làm thêm giờ với khoảng thời gian em làm thêm mỗi ngày một tiếng, tiền làm thêm đối với ngày chủ nhật (ngày nghỉ).

2. Việc công ty có thêm biên bản thỏa thuận là người lao động tự nguyện nộp bằng gốc là sai pháp luật vi căn cứ theo điều 17 Bộ luật lao động 2019 thì những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động gồm có: Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.--> dù có biên bản thỏa thuận trên thì công ty cũng k được phép giữ bản chính bằng của em (bằng gốc) khi giao kết thực hiện đồng với em.

3. Trong thời gian 5 năm đơn phương chấm dứt hợp đồng không có lý do chính đáng sẽ hoàn trả lại toàn bộ tiền lương trong 1 năm đầu --> biên bản thỏa thuận này cũng là trái pháp luật vì vi phạm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động căn cứ theo điều 35 BLLD 2019

Với những thắc mắc của em thì căn cứ theo pháp luật:

1. Nếu em tự ý nghỉ việc không báo trước cho công ty thì căn cứ theo điều 63 BLLĐ 2019 e sẽ có nghĩa vụ sau: Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động; phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước (45 ngày), có thể phải Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty nêu em ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp em được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

2. Nếu Em muốn báo ốm ở công ty rồi cứ thế nghỉ luôn, qua công ty khác đóng mới sổ bảo hiểm mà không liên quan tới công ty cũ là không thể được bởi . Theo quy định của pháp luật hiện hành, mỗi người lao động chỉ được cấp 1 sổ BHXH làm cơ sở để đóng BHXH trong suốt quá trình lao động cho đến nghỉ chốt sổ nghỉ hưu. Nếu công ty cũ phát hiện e đi làm chỗ khác thì tức là họ đã phát hiện ra em đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật và sẽ bị phạt như trường hợp trên.

3. Việc bạn chuyển qua một công ty khác nếu theo như quyết định của công ty hiện tại em đang làm thì đó không bị coi là tự ý nghỉ việc nhưng nếu việc em tự ý chuyển qua làm tại một công ty khác không có quyết định của công ty hiện tại mà lại không thông báo cho công ty biết trước 45 ngày thì đó là tự ý nghỉ việc. Do đó em vẫn phải gánh trịu trách nhiệm tự ý thôi việc

4. Pháp luật lao động sinh ra để cân bằng lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động. Em là người lao động, nếu như người lao động có thể tự ý nghỉ việc mà không cần thông báo trước thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của công ty. Lúc này lợi ích của người sử dụng lao động bị xâm hại. Pháp luật không để chuyện bất bình đẳng đó sảy ra được. Em không có cách nào tự ý nghỉ việc mà không phải chịu phạt.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật lao động và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 . Trân trọng./.

4. Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ?

Thưa Luật sư. Tôi được ký hợp đồng lao động một năm từ ngày 01/2/2015 đến 28/2/2016. Ngày 15/7/2015 tôi được thông báo miệng sẽ kết thúc công việc vào ngày 31/7/2015 và sẽ được nhận một tháng lương. Như vậy có đúng không ?
Tôi xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

- Điều 36 Bộ luật lao động 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

 

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động."

Nếu công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vào ngày 31/7/2015 thì công ty phải báo cho bạn trước ít nhất 30 ngày, tức là báo cho bạn từ ngày 1/7/2015 với những lý do quy định tại khoản 1, điều 36 Bộ luật lao động 2019. Công ty báo cho bạn trước 15 ngày do đó công ty chấm dứt hợp đồng lao động là trái quy định của pháp luật.

Theo đó, nghĩa vụ của công ty phải theo điều 41 Bộ luật lao động 2019 cụ thể là:

"Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

 

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

"

>> Tham khảo bài viết liên quan:

1. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

2. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

3. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.