- 1. Quy định về chấm dứt hợp đồng với người đang nuôi con dưới 1 tuổi
- 2. Trách nhiệm của doanh nghiệp khi chấm dứt hợp đồng với người đang nuôi con dưới 1 tuổi.
- 3. Lao động nữ nuôi con dưới 1 tuổi có những quyền lợi gì?
- 4. Mức xử phạt đối với doanh nghiệp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người đang nuôi con dưới 1 tuổi
1. Quy định về chấm dứt hợp đồng với người đang nuôi con dưới 1 tuổi
Theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này áp dụng cho những trường hợp sau đây.
- Trước tiên, nếu người lao động đang ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp và đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, thì người sử dụng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động của họ, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 của Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.
- Thứ hai, nếu người lao động đang trong thời gian nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng hoặc có trường hợp nghỉ khác mà người sử dụng lao động đã đồng ý, thì họ cũng không thể bị chấm dứt hợp đồng lao động.
- Cuối cùng, nếu người lao động là phụ nữ mang thai hoặc đang nghỉ thai sản, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì người sử dụng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động của họ.
Như vậy, quy định trên bảo vệ quyền lợi của người lao động đang nuôi con nhỏ, đảm bảo rằng họ không bị mất việc làm trong thời gian quan trọng để chăm sóc và nuôi dưỡng con cái của mình. Điều này giúp tạo ra một môi trường công việc tốt hơn, thúc đẩy sự cân bằng giữa cuộc sống gia đình và công việc của người lao động.
2. Trách nhiệm của doanh nghiệp khi chấm dứt hợp đồng với người đang nuôi con dưới 1 tuổi.
Trách nhiệm của doanh nghiệp khi chấm dứt hợp đồng với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được quy định tại Điều 41 của Bộ luật Lao động 2019. Theo quy định này, doanh nghiệp phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kết: Khi chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp phải tiếp nhận người lao động trở lại làm việc theo điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động ban đầu.
- Trả tiền lương và các khoản bảo hiểm xã hội: Trong thời gian người lao động không làm việc, doanh nghiệp phải trả tiền lương cho người lao động cùng với việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
- Chi trả khoản tiền bồi thường: Ngoài việc trả tiền lương và các khoản bảo hiểm, doanh nghiệp còn phải trả cho người lao động một khoản tiền bồi thường ít nhất tương đương với 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động cần trả lại cho doanh nghiệp các khoản tiền trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận từ doanh nghiệp.
- Trong trường hợp không có vị trí công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động ban đầu nhưng người lao động vẫn muốn tiếp tục làm việc, hai bên có thể thỏa thuận để sửa đổi hoặc bổ sung hợp đồng lao động.
- Nếu doanh nghiệp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 của Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp sẽ phải trả một khoản tiền tương đương với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không có thông báo trước.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, ngoài việc nhận được các khoản tiền theo quy định tại khoản 1 của Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động còn phải trả cho người lao động một khoản tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn tiếp tục tuyển dụng người lao động và người lao động đồng ý, ngoài việc trả các khoản tiền theo quy định tại khoản 1 của Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 và khoản tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, hai bên còn thỏa thuận một khoản tiền bồi thường bổ sung cho người lao động, với mức tối thiểu là 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Lao động nữ nuôi con dưới 1 tuổi có những quyền lợi gì?
Quyền lợi của lao động nữ nuôi con dưới 1 tuổi được đảm bảo bởi các quy định pháp luật đặc biệt. Theo đó:
- Lao động nữ không thể bị sa thải, kỷ luật hoặc chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương trong thời gian đang nuôi con dưới 1 tuổi.
- Lao động nữ không bị xử lý kỷ luật trong quá trình làm việc.
- Lao động nữ có quyền từ chối làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong thời gian nuôi con dưới 1 tuổi.
- Lao động nữ có quyền chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà không bị giảm lương cho đến khi con dưới 1 tuổi, trong các trường hợp sau:
- Đang làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Đang làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai.
- Lao động nữ được ưu tiên ký kết hợp đồng lao động mới khi hợp đồng lao động hiện tại hết hạn trong thời gian nuôi con dưới 1 tuổi.
- Trong thời gian làm việc, lao động nữ được nghỉ mỗi ngày 60 phút để cho con bú, vắt sữa, trữ sữa và nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ này vẫn được tính vào lương.
- Nếu lao động nữ có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp.
- Trong trường hợp lao động nữ được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và khi con bị ốm đau và có xác nhận từ cơ sở khám bệnh, lao động nữ có quyền nghỉ việc theo quy định và được hưởng trợ cấp khi con ốm đau.
Tổng kết, những quyền lợi này nhằm đảm bảo sự bình đẳng và sự chăm sóc cho lao động nữ khi đang nuôi con nhỏ dưới 1 tuổi. Các quy định này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ trong việc làm việc và nuôi con, đồng thời thể hiện tôn trọng và quan tâm đến vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội.
4. Mức xử phạt đối với doanh nghiệp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người đang nuôi con dưới 1 tuổi
Theo quy định tại điểm i, khoản 2 của Điều 28 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với nhân viên đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con.
- Tuy nhiên, có những trường hợp doanh nghiệp không bị xử phạt khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với nhân viên đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, bao gồm:
+ Trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân đã qua đời, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự bởi Tòa án, mất tích hoặc đã chết.
+ Trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân và đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật. Trong trường hợp này, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật tuy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Ngoài ra, theo quy định tại điểm c, khoản 3 của Điều 28 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, doanh nghiệp còn phải chịu biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách tiếp tục nhận lại người lao động trở lại làm việc.
- Đáng lưu ý là mức xử phạt quy định tại khoản 2 của Điều 28 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP áp dụng đối với cá nhân, trong khi mức xử phạt đối với tổ chức sẽ gấp đôi so với mức xử phạt đối với cá nhân.
Xem thêm:
- Công ty có được chấm dứt hợp đồng với lao động nữ đang mang thai không?
- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?
Nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc vấn đề pháp luật, chúng tôi mong muốn đảm bảo rằng quý khách nhận được sự hỗ trợ và giải đáp một cách đầy đủ. Để đảm bảo quyền lợi của quý khách được bảo vệ, chúng tôi đã thiết lập một tổng đài tư vấn pháp luật lao động với số điện thoại 1900.6162 và địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để tiếp nhận các yêu cầu hỗ trợ. Quý khách có thể liên hệ với chúng tôi thông qua tổng đài hoặc gửi email để nhận được sự hỗ trợ và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất. Đội ngũ chuyên gia pháp luật của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng.