1. Thư tín, điện thoại, điện tín là gì?
- Thư tín là văn bản chứa đựng những thông tin mà một người muốn báo cho một hoặc nhiều người khác biết. Theo nghĩa rộng nhất, thư tín là bất kì thông tin nào được ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định và được chuyển từ một người - người gửi sang một người khác - người nhận, theo ý chí của người gửi. Hình thức vật chất đó đồng thời cũng là phương thức bảo quản thông tin trong quá trình di chuyển từ người sang người. Hình thức của thư tín rất đa dạng, cụ thể có các hình thức phổ biến như sau:
+ Thư viết trên giấy, là loại thư tín cổ điển. Thông tin được ghi nhận trên giấy có thể bằng chữ viết thông thường hoặc bằng một hệ thống kí hiệu quy ước giữa chủ thể gửi thông tin và chủ thể nhận thông tin;
+ Thông tin có thể được chứa đựng trong băng, đĩa từ dạng chữ viết, tiếng nói, hình ảnh hoặc cả ba;
+ Thư được soạn thảo trên máy tính và gửi từ một địa chỉ điện tử đến một địa chỉ điện tử khác, thông qua mạng internet;
+ Nhắn tin qua điện thoại, đây là việc để lại lời nhắn trên hộp thư thoại hoặc hộp tin nhắn của một số điện thoại. Lời nhắn trên hộp thư thoại tồn tại dưới dạng lời nói (lời đối thoại) được ghi âm.
- Điện thoại là khái niệm để chỉ loại điện thoại di động thích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ tiên tiến về điện toán và có khả năng kết nối với nhiều thiết bị điện tử hiện đại;
- Điện tín là cách thức truyền thông tin (tin nhắn) không lời thoại. Nó được sử dụng rộng rãi trong ngành hàng hải và hàng không.
Mỗi người đều có những bí mật riêng của mình, do đó không được ai có quyền xâm phạm nếu chưa được sự đồng ý chủ nhân. Không sẽ vi phạm một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước quy định đó là quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.
Như vậy, bí mật thư tín điện tín điện thoại là nội dung thư tín, điện tín, điện thoại thuộc về bí mật đời tư, không ai được loan truyền, đặc biệt là những nhân viên bưu điện phải giữ bí mật, phải chuyển giao đúng địa chỉ, không được làm thất lạc…
2. Quy định của pháp luật về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
Bí mật đời tư là quyền được Hiến pháp ghi nhận, trong đó có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Căn cứ quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định về bí mật điện tín. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Như vậy, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
3. Các trường hợp kiểm soát thư tín điện thoại điện tín của cá nhân
Theo quy định của pháp luật cơ quan có thẩm quyền được thu giữ thư tín điện thoại điện tín khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông để phục vụ cho việc điều tra. Việc thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín cần được thực hiện đẩy đủ trình tự thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.
- Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ và được viện kiểm sát phê chuẩn;
- Nếu việc thu giữ không thể trì hoãn thì được phép thu giữ ngay và nêu lý do vào biên bản;
- Đồng thời người thi hành thu giữ cần thông báo cho người có bưu phẩm biết về việc thu giữ.
Trong trường hợp việc thông báo trước gây cản trở việc thu giữ thì được thu giữ trước, ngay sau khi cản trở không còn thì phải thông báo ngay cho người thu giữ được biết. Theo quy định của pháp luật, việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy nên, việc kiểm tra thư tín, điện thoại điện tín của cá nhân không được thực hiện tự tiện mà cần phải có quy định đúng quy định nếu không người thực hiện hành vi kiểm tra có thể bị kiện ngược lại và truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Tội xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác là hành vi chiếm đoạt thư, điện báo,... hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và vi tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà còn vi phạm.
Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
- Cá nhân sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm khi đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác mà còn vi phạm cụ thể như sau:
- Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
- Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
- Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
- Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
- Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
Người nào phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm khi thuộc vào một trong các trường hợp sau:
- Phạm tội xâm phạm bí mật thư tín, điện tín có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
- Làm nạn nhân tự sát.
Ngoài các khung hình phạt như trên thì người phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, tùy thuộc vào tính tiết và mức độ nghiêm trọng mà người có hành vi chiếm đoạt thư tín, điện thoại, điện tín có những hành vi vi phạm trái pháp luật xâm phạm đến bí mật hoặc an toàn thư tín, điện báo của người khác thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tù lên tới 05 năm.
Trên đây là tư vấn mà công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!