NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Tính pháp lí của chứng từ thanh toán bằng thư tín dụng.

1.1. Khái niệm tín dụng chứng từ.

Căn cứ Điều 2 Quy tắc thực hành và thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) tín dụng chứng từ được hiểu là “một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hay mô tả thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không được hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Đây là định nghĩa khá toàn diện, phản ánh tính không hủy ngang của thư tín dụng và cam kết của ngân hàng đối với thư tín dụng do mình phát hành.

Trong pháp luật Việt Nam tín dụng chứng từ được định nghĩa tại Điều 16 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thánh toán: “Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán để:

- Trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng: hoặc

- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng”.

Đây là định nghĩa trực tiếp về tín dụng chứng từ duy nhất trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam. Định nghĩa này đã phản ánh được bản chất của tín dụng chứng từ là cam kết của ngân hàng phát hành về việc trả tiền hoặc ủy nhiệm nhân hàng khác trả tiền cho người thụ hưởng theo các điều kiện thỏa thuận với người xin mở thư tín dụng.

1.2. Chức năng cơ bản của thư tín dụng chứng từ.

-Chức năng thanh toán:L/C là một phương thức thanh toán rất thông dụng trong mua bán quốc tế.

- Chức năng bảo đảm: L/C là mọi cam kết thanh toán có điều kiện và độc lập của ngân hàng phát hành, bảo đảm là người thụ hưởng sẽ không bị phụ thuộc vào thiện chí thanh toán của người mua.

- Chức năng tín dụng: trong một thời gian giao dịch L/C, ngân hàng có thể chiết khấu chứng từ hàng xuất của người xuất khẩu với điều kiện là chứng từ đó hoàn toàn hợp lệ

1.3. Các chủ thể trong thánh toán tín dụng chứng từ.

Trong quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng, có hai loại chủ thể tham gia, đó là bên cung ứng dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ và bên sử dụng dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ.

a. Bên cung ứng dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ

Chủ thể bên cung ứng dịch vụ thanh toán chứng từ bao gồm các ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có điều kiện, trong đó ngân hàng là chủ thể thực hiện thanh toán tín dụng chứng từ. Theo quy định, các tổ chức cung ứng thanh toán dịch vụ bằng thư tín dụng bao gồm:

Ngân hàng phát hành tín dụng chứng từ (opening bank; isuing bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu mở thư tín dụng. Ngân hàng phát hành thường được bên xuất khẩu và bên nhập khẩu thỏa thuận quy định trong hợp đồng, nếu chưa có quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn

Ngân hàng thông báo(advising bank): Thường là ngân hàng đại lí hay một chi nhánh ngân hàng mở L/C ở nước người xuất khẩu. Khi nhận được điện thông báo L/C của ngân hàng phát hành L/C, ngân hàng này sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản. Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải từ chuyên môn ra tiếng địa phương.

Ngân hàng xác nhận (Confirming bank) là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu đứng ra xác nhận L/C trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự đảm bảo chắc chắc chắn của L/C bằng thủ tuc xác nhận. Thông thường, đó là một ngân hàng lớn có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế, đôi khí đó chỉ là ngân hàng thông báo.

Ngân hàng chỉ định (Nominated bank) là ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng nào đó được ngân hàng phát hành ủy nhiệm để khi nhận bộ chứng từ xuất trình phù hợp với những quy định trong L/C thì thanh toán cho người thụ hưởng, chấp nhận hối phiếu kỳ hạn, chiết khấu hối phiếu hoặc bộ chứng từ, hoặc chịu trách nhiệm trả chậm giá trị của L/C. Ngân hàng chỉ định cũng có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ của người thụ hưởng gửi đến ngân hàng phát hành.

b. Bên sử dụng dịch vụ thanh toán bằng chứng từ.

Chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ là tổ chức, cá nhân bào gồm: người yêu cầu mở thư tín dụng cà người thụ hưởng.

Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant for letter of credit) là bên mà thư tín dụng phát hành theo yêu cầu của họ. Trong thương mại quốc tế, người yêu cầu là người được nhập khẩu hoặc nhà nhập khẩu ủy thác cho một người khác yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc ngân hàng phát hành trả tiền cho người thụ hưởng L/C.

Người thụ hưởng thư tín dụng (beneficiary of letter of credit) Là bên được hưởng số tiên thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C. Tùy hoàn cảnh cụ thẻ mà Người thụ hưởng có thể có những tên gọi khác nhau như người bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter), hay bất cứ người nào mà người hưởng lợi chỉ định

1.4. Điều kiện thanh toán chứng từ bằng thư tín dụng.

Sau khi người thụ hưởng hoàn tất nghĩa vụ về hàng hóa hoặc dịch vụ, lập bộ chứng từ, xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định trong khoảng thời gian nhất định của thư tín dụng, để được thanh toán, bộ chứng từ phải có những điều kiện sau đây:

- Bộ chứng từ phải đầy đủ về mặt chủng loại và số lượng, thể hiện nội dung phù hợp với yêu cầu L/C. Bản thân các chừng từ đó không mâu thuẫn nhau về mặt nội dung.

-Bộ chứng từ phải phù hợp với dẫn chiếu trong L/C.

- Bộ chứng từ phải phù hợp với ISBP

1.5. Thủ tục thanh toán bằng thư tín dụng.

a. Thủ tục thanh toán tín dụng chứng từ trong nước.

Hiện nay, thủ tục thanh toán tín dụng chứng từ trong nước được quy định tại Điều 7 Quyết định số 1092 ngày 08/10/2002 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, theo đó:

- Khi có nhu cầu thanh toán bẳng thư tín dụng, người trả tiền lập giấy mở thư tín dụng nộp vào ngân hàng phục vụ mình. Mẫu giấy mở thư tín dụng, số liên lập giấy mở thư tín dụng, thủ tục lập, phương thức giao nhận, xử lí giấy mở tín dụng do ngân hàng phục vụ người trả tiền quy định nhưng phải đảm bảo phù hợp với các quy định về lập, kiểm soát, xử lý chứng từ kế toán ngân hàng, tổ chức tín dụng do Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành.

- Khi nhận được giấy mở thư tín dụng (dưới dạng chứng từ hoặc chứng từ điện tử) do ngân hàng phục vụ người trả tiền gửi đến, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của giấy mở thư tín dụng; kiểm tra kí hiệu mật, dấu, chữ ký (nếu dưới dạng chứng từ giấy) hoặc mã khóa bảo mật, chữ ký điện tử (nếu dưới dạng chứng từ điện tử) của ngân hàng phục vụ người trả tiền, sau đó ghi ngày nhận, ký tên, đóng dấu đơn vị lên trên các liên giấy mở thư tín dụng (nếu dưới dạng chứng từ điện tử thì in 2 liên ra giấy) và gửi một liên giấy mở thư tín dụng cho người thụ hưởng để làm căn cứ giao hàng, còn một liên lưu lại và mở sổ theo dõi giấy mở thư tín dụng đến;

- Khi nhận được 4 liên bảng kê kèm hóa đơn chứng từ giao hàng cho người thụ hưởng nộp vào, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng kiểm tra bảng kê hóa đơn chứng từ giao hàng; đối chiếu chữ ký của người được ủy nhiệm nhận hàng với chữ ký mẫu; kiểm tra thời hạn hết hiệu lực của thư tín dụng; số tiền người thụ hưởng đề nghị thanh toán trong phạm vi số tiền mở thư tín dụng.

b. Thủ tục thanh toán tín dụng chứng từ quốc tế.

Đối với hoạt động thanh toán chứng từ trong thanh toán quốc tế: Việc mở, phát hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra chứng từ, thanh toán, quyền và nghĩa vụ... cuả cấc bên liên quan trong thnh toán thư tín dụng thực hiện theo các nguyên tắc chung về tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành, do các bên tham gia thanh toán thỏa thuận áp dụng và theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

Về thời hạn kiểm tra bộ chứng từ, theo quy định tại điểm b Điều 14 UCP 600 ngân hàng phát hành sẽ có tối đa 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình để quyết định xem việc xuất trình có phù hợp hay không”, ngân hàng phát hành sẽ mất quyền từ chối sau 5 ngày làm việc đó.

1.6. Điều kiện mở L/C.

Đơn xin mở L/C trả ngay. Cơ sỏ viết đơn là hợp đồng ngoại thương đã ký kết

Đối với L/C trả chậm:

  • Giấy phép nhập khẩu (nếu có) hoặc quota nhập
  • Phương án bán hàng để thanh toán nhập khẩu.
  • Đơn xin mở L/C trả chậm. Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết
  • Đơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ

2. Tính pháp lí của chứng từ thanh toán bằng hồi phiếu

Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người xuất khẩu, người bán, người cung ứng dịch vụ ký phát đòi tiền người nhập khẩu, người mua, người cung ứng dịch vụ và yêu cầu người này khi thấy hối phiếu phải trả một khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định cho người hưởng lợi quy định trong hối phiếu, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác. Theo luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 thì có 2 khái niệm là hối phiếu đòi nợ ( Bill of exchange) và hối phiếu nhận nợ ( Promissory Note).

2.1 Hối phiếu đòi nợ

a, Khái niệm

Theo khoản 3, điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 : “ Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị kí phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”. Trước đây trong pháp lệnh thương phiếu 1999, hối phiếu đòi nợ chỉ được gọi là hối phiếu, đến Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 thì tên gọi này đã được sửa đổi để phù hợp với khái niệm nêu trên. Như vậy khi phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy trong quan hệ thanh toán bằng hối phiếu đòi nợ có các chủ thể sau:

- Người kí phát hối phiếu đòi nợ thông thường là người bán, đại diện tổ chức xuất khẩu, cung ứng dịch vụ.

- Người chịu trách nhiệm thanh toán hối phiếu đòi nợ là người mà hối phiếu đòi nợ gửi đến cho họ, đòi họ tiền.

- Người hưởng lợi hối phiếu đòi nợ trước hết là người ký phát hối phiếu đòi nợ, sau đó là người do người ký phát chỉ định trên hối phiếu đòi nợ, người hưởng lợi cũng có thể là các ngân hàng kinh doanh đối ngoại, được ngân hàng nhà nước cấp giấy phép.

b, Đặc điểm

- Tính khái quát của hối phiếu đòi nợ: tính khái quát của hối phiếu đòi nợ ở điểm trên hối phiếu đòi nợ không cần phải ghi quan hệ kinh tế, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả là bao nhiêu và trả cho ai, người nào sẽ thanh toán, thời gian thanh toán là khi nào?

- Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu đòi nợ : Người trả tiền của hối phiếu đòi nợ phải trả tiền đầy đủ theo đúng yêu cầu của hối phiếu đòi nợ. Người trả tiền không được viện lý do riêng của bản thân đối với người ký hối phiếu đòi nợ.

- Tính lưu thông của hối phiếu đòi nợ: thể hiện ở điểm hối phiếu đòi nợ có thể chuyển nhượng một hoặc nhiều lần trong thời hạn của nó.

c, Điều kiện để phát hành hối phiếu đòi nợ

- Điều kiện về hình thức: Hối phiếu đòi nợ phải làm thành văn bản. Hối phiếu nói, điện tín, điện thoại…. đều không có giá trị pháp lý. Hình mẫu của hối phiếu nói do Ngân hàng Nhà nước quy định hoặc do người phát hành tự định đoạt

- Điều kiện nội dung: Hối phiếu đòi nợ cần phải có những nội dung bắt buộc sau: Tiều đề, yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện với một số tiền xác định, thời điểm thanh toán, địa điểm thanh toán, tên đói với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người hưởng thụ được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc cho người cầm giữ địa điểm và ngày kí phát

- Điều kiện về cơ sở phát hành: Cở sở phát hành công cụ chuyển nhượng được quy định trong điều 3 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005.

d, Nghĩa vụ của những người liên quan đến hối phiếu đòi nợ

Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong quan hệ thanh toán và đòi nợ bằng hối phiếu.

e,Về vấn đề chấp nhận hối phiếu đòi nợ.

Hối phiếu đòi nợ sau khi ký phát phải được xuất trình cho người trả tiền để người này ký chấp nhận trả tiền, đối với những hối phiếu đòi nợ có kỳ hạn. Thống thường hối phiếu đòi nợ được gửi đến người trả tiền để người này ký chấp nhận trả tiền bất cứ lúc nào trước ngày hết hạn xuất trình hối phiếu. Trong trường hợp hai bên quy định rõ với nhau trong hợp đồng mua bán hoặc trong thư tín dụng thời hạn cụ thể phải xuất trình hối phiếu để chấp nhận, thì hối phiếu đòi nợ phải xuất trình để được chấp nhận trong thời hạn đó.

2.2 Hối phiếu nhận nợ.

a, Khái niệm.

Theo luật các công cụ chuyển nhượng 2005, hối phiếu nhận nợ được định nghĩa như sau: “ Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”. Như vậy chủ thể phát lập hối phiếu đòi nợ thường là người được thanh toán, thì chủ thể phát lập hối phiếu nhận nợ thường là người có nghĩa vụ thanh toán. Hối phiếu nhận nợ cũng mang những đặc điểm của hối phiếu đòi nợ như tính khái quát, tính bắt buộc trả tiền, tính lưu thông.

b, Tính pháp lý của hối phiếu nhận nợ.

- Điều kiện phát hành : phải tuân theo các điều kiện giống hối phiếu đòi nợ về hình thức, nội dung, cơ sở phát hành, chủ thể phát hành.

- Các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi thực hiện thanh toán bằng hối phiếu nhận nợ.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê