1. Các yếu tố then chốt

Các hiệp định thương mại quốc tế thường nhằm vào sự cân đối chung về những nhân nhượng và nghĩa vụ để bảo đảm các điều kiện tương tự về cạnh tranh, và khai thác tốt nhất các lợi ích của tự do hoá thương mại.

Tuy nhiên, trong cả GATT, WT0 và hàng loạt các thoả thuận thương mại tự do khác, mức độ phát triển kinh tế khác nhau giữa các bên đã phản ảnh bằng cách đưa vào hiệp định các điều khoản riêng. Điều này thường thể hiện dưới hình thức những quy tắc đặc biệt, ưu tiên các bên tham gia là nước chậm phát triển (ví dụ điều khoản đối xử đặc biệt và có phân biệt trong GATT/ WTO), hoặc đối xử không đối xứng trong hiệp định thương mại tự do trong một giai đoạn tạm thời (ví dụ một thời kỳ chuyển đôi để loại bỏ bảo hộ biên giới). Các công cụ sẵn có này khi ký kết các hiệp định thương mại quốc tế có thể khác nhau rất nhiều, tuỳ thuộc vào mục đích, quy mô và mức độ cam kết, số lượng cắc bên tham gia cũng như sự gắn bó về kinh tế và chính trị của các bên liên quan.

Những nhân nhượng thương mại có thể được bảo đảm trên cơ sở tự trị hoặc trên cơ sở hiệp định. Biện pháp tự trị cho phép quốc gia thận trọng duy trì, rút khỏi hoặc điều chỉnh những nhượng bộ đã chấp thuận: ví dụ những chính sách hay những biện pháp không ràng buộc, áp dụng thuế quan có tính chất quốc gia hay những hạn chế về số lượng, đối xử ưu đãi thuế quan trên cơ sở Hệ thống ưu đãi chung (GSP). Việc thay đổi các loại nhân nhượng như vậy có thể thực hiện mà không cần sự nhất trí của đối tác thương mại khác, ngay cả khi những thay đổi này có thể gây cho họ sự quan ngại. Những nhân nhượng đã ký kết thường liên kết với các công cụ phấp lý hay thoả thuận giữa hai hay nhiều nước. Nhân nhượng có thể được bảo đảm trên cơ sở song phương (ví dụ đối vói các hạn ngạch sắt thép đặc biệt, pho mát, hàng dệt may hoặc đối xử ưu đãi theo hiệp định thương mại tựdo), trên cơ sở khu vực (liên minh thuế quan, FTA theo vùng), trên cơ sở nhiều bên (ví dụ nhân nhượng theo Hiệp định mua sắm chính phủ của WTO), hoặc trên cơ sở đa phương. Ví dụ, về cấp độ đa phương là các thuế nhập khẩu ràng buộc ràng buộc quốc gia hoặc cam kết cắt giảm thuế theo lịch trình thuế quan GATT, những cam kết ban đầu trong chương trình quốc gia đối với Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO, cấc cam kết cắt giảm trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp hay cắt giảm trợ cấp trong nước theo Hiệp định về Nông nghiệp của WTO. Các hiệp định có thể chỉ bao hàm những vấn đề giới hạn hay một số lượng hạn chế sản phẩm, hoặc có thể toàn diện và bao trùm, hoặc tất cả câc ngành, kể cả câc điều khoản chi tiết về trừng phạt thương mại.

Thêm vào các điều khoản chi tiết về các lĩnh vực như cam kết mở cửa thị trường hay các thủ tục áp dụng các biện pháp bảo hộ, các hiệp định thương mại quốc tế thường chứa đụng một số cơ chế giải quyết tranh chấp, hoặc trừng phạt để giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh giữa các bên và cấc vi phạm điều khoản của hiệp ước. Mức độ cam kết ràng buộc trong bất cứ điều khoản nào cũng có thể khác biệt nhiều, cũng như ngay trong mặt hiệp định. Các điều khoản giải quyết tranh chấp có thể chỉ nhằm vào việc phân xử trọng tài không ràng buộc, trong khi phân xử trọng tài có ràng buộc, hoặc các phấn quyết của hội thẩm phải thi hành bởi các điều khoản cho phép sử dụng các biện pháp đối khắng nếu việc bồi thường hoặc phán quyết của toà không được thực hiện. Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT “cũ” là sự pha trộn giữa sự thận trọng pháp lý về chính trị và luật phấp, một hệ thống đã được củng cố đáng kể và tạo ra nhiều cơ sở pháp lý bằng cách đưa ra Bản Ghi nhớ về Giải quyết Tranh chấp mới của WTO. Toà án châu Âu với quyền tài phán toàn diện, đúng trên cả các Quốc gia Thành viên EU và uỷ ban EU là một ví dụ điển hình về hình thức cao nhất của luật pháp trong việc giải quyết tranh chấp hoặc vi phạm câc điều ước quốc tế.

2. Thương mại quốc tế là gì?

“Thương mại quốc tế" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Đó là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất qua biên giới giữa các quốc gia, hoặc/và là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các tổ chức cá nhân trong nước với đối tác nước ngoài. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xem xét thương mại quốc tế trên 4 lĩnh vực chủ yếu là thương mại hảng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, phạm vi nghiên cứu và thực tiễn các chính sách quản lý đối với thương mại quốc tế đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực và chủ thể hơn, như liên quan đến mối quan hệ giữa con người với con người như lao động việc làm, quyền con người..., và mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên như môi trường, ...

Xét trên phương diện là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế là một quá trình có phạm vi và qui mô quốc tế, bắt đầu từ khâu nghiên cứu xác định thị trường cho đến sản xuất, lưu thông đến người tiêu dùng cuối cùng và theo một chu trình lặp đi lặp lại với qui mô, tốc độ lớn hơn. Trên phương diện là một ngành kinh tế, thương mại quốc tế là một lĩnh vực phân phối được chuyên môn hoá, có tổ chức, có phân công và hợp tác giữa các đối tác của hai hay nhiều quốc gia với nhau với khách thể tác động là hàng hoá, dịch vụ...

Thương mại quốc tể bao gồm quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau. Vì vậy, thương mại quốc tế liên quan đến rất nhiều các vấn đề khác nhau giữa các quốc gia, giữa các danh nghiệp mỗi quốc gia và thậm chí giữa doanh nghiệp với quốc gia.

Thương mại quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia. Nó cho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của mỗi nước. Bên cạnh đó, thương mại quốc tế có sự tác động qua lại, buộc mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với ngành nghề, vùng miền và thành phần kinh tế với đặc thù và lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia.

Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mua bán giữa các quốc gia mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân công lao động quốc tế thông qua chuỗi cung ứng quốc tế. Vì vậy, thương mại quốc tế được nhìn nhận như một nhân to quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên cơ sở lựa chọn tối ưu phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế.

3. Đặc điểm thương mại quốc tế

a. Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại

Hoạt động thương mại là quan hệ giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân, người thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại có tính chất nghề nghiệp

Bên còn lại trong hoạt động thương mại có thể được xác định là thương nhân, nhưng cũng có thể được xác định không phải là thương nhân như cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh được điều chỉnh pháp luật.

b. Mục đích của người thực hiện hoạt động thương mại

Mục đích chính của người thực hiện hoạt động thương mại là lợi nhuận, sinh lời.

c. Nội dung của hoạt động thương mại

Nội dung hoạt động thương mại gồm hai nhóm hoạt động cơ bản là mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ (thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ). Ngoài ra, các hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng là những hoạt động thương mại.

d. Hàng hóa, dịch vụ các chủ thể được phép kinh doanh

Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại được phép thực hiện kinh doanh tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật.

e. Phạm vi thực hiện hoạt động thương mại

Phạm vi thực hiện hoạt động thương mại không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn được thực hiện ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong phạm vi khu vực và thế giới, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế. Thông qua đó khẳng định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.

4. Hoạt động thương mại là gì?

Hoạt động thương mại có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, nghĩa rộng: Hoạt động thương mại - đó là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi“ (K2 Đ4 Luật Doanh nghiệp 2005). Hoạt động kinh doanh thực hiện trong nhiều lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ.

Như vậy, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất dưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Kinh doanh bất động sản , Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác.

Thứ hai, theo nghĩa hẹp, theo Luật thương mại , “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác“.

5. Đôi nét về WTO

Hơn thập kỷ qua, và đặc biệt từ sau khi thành lập WTO năm 1995, nhiều vấn đề thương mại đa phương thường được nêu thành tin quan trọng trên các phương tiện truyền thông đại chúng và thường được bàn cãi công khai.

Kết thúc vòng đàm phán Uruguay, WTO cuối cùng được thành lập năm 1995 sau gần một nửa thế kỷ trì hoãn và trở thành cột trụ thứ 3 của cơ cấu tài chính và kinh tế toàn cầu, hoặc còn được gọi là các thê chế Bretton - Wood, cùng với hai cột trụ khác là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển, IBRD).

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế toàn cầu duy nhất xử lý các quy tắc thương mại giữa các quốc gia. Trọng tâm của nó là các hiệp định WTO, được đàm phán và ký kết bởi phần lớn các quốc gia thương mại trên thế giới và được quốc hội của họ phê chuẩn. Mục tiêu là đảm bảo rằng thương mại diễn ra suôn sẻ, dễ đoán và tự do nhất có thể.

WTO cung cấp một diễn đàn để đàm phán các hiệp định nhằm giảm bớt những trở ngại đối với thương mại quốc tế và đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi người, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. WTO cũng cung cấp khuôn khổ pháp lý và thể chế để thực hiện và giám sát các hiệp định này, cũng như để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc giải thích và áp dụng các hiệp định này. Cơ quan hiệp định thương mại hiện tại bao gồm WTO bao gồm 16 hiệp định đa phương khác nhau (mà tất cả các thành viên WTO đều là thành viên) và hai hiệp định đa phương khác nhau (chỉ một số thành viên WTO là thành viên).

Trong 60 năm qua, WTO, được thành lập vào năm 1995, và tổ chức tiền thân của nó là GATT đã giúp tạo ra một hệ thống thương mại quốc tế mạnh mẽ và thịnh vượng, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu chưa từng có. WTO hiện có 164 thành viên, trong đó 117 nước là các nước đang phát triển hoặc các vùng lãnh thổ hải quan riêng biệt. Các hoạt động của WTO được hỗ trợ bởi Ban Thư ký gồm 700 nhân viên, do Tổng Giám đốc WTO đứng đầu. Ban Thư ký đặt tại Geneva, Thụy Sĩ và có ngân sách hàng năm khoảng 200 triệu CHF (180 triệu đô la, 130 triệu euro). Ba ngôn ngữ chính thức của WTO là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha.

Các quyết định trong WTO thường được đưa ra bởi sự đồng thuận của toàn bộ thành viên. Cơ quan thể chế cao nhất là Hội nghị Bộ trưởng , họp khoảng hai năm một lần. Một Hội đồng chung tiến hành công việc kinh doanh của tổ chức trong khoảng thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng. Cả hai cơ quan này bao gồm tất cả các thành viên. Các cơ quan chuyên môn trực thuộc (Hội đồng, Ủy ban, Tiểu ban), cũng bao gồm tất cả các thành viên, quản lý và giám sát việc thực hiện của các thành viên trong các hiệp định khác nhau của WTO.

Cụ thể hơn, các hoạt động chính của WTO đó là:

- Đàm phán về việc giảm hoặc loại bỏ các trở ngại đối với thương mại (thuế nhập khẩu, các rào cản khác đối với thương mại) và đồng ý về các quy tắc điều chỉnh hành vi thương mại quốc tế (ví dụ như chống bán phá giá, trợ cấp, tiêu chuẩn sản phẩm, v.v.)
- Quản lý và giám sát việc áp dụng các quy định của WTO các quy tắc đã nhất trí đối với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
- Giám sát và xem xét các chính sách thương mại của các thành viên, cũng như đảm bảo tính minh bạch của các hiệp định thương mại khu vực và song phương
- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của chúng tôi về việc giải thích và áp dụng các hiệp định
- Xây dựng năng lực của các quan chức chính phủ nước đang phát triển trong các vấn đề thương mại quốc tế
- Hỗ trợ quá trình gia nhập của khoảng 30 quốc gia chưa là thành viên của tổ chức
- Thực hiện nghiên cứu kinh tế và thu thập và phổ biến dữ liệu thương mại nhằm hỗ trợ các hoạt động chính khác của WTO
- Giải thích và giáo dục công chúng về WTO, sứ mệnh và các hoạt động của nó.

Song song với sự phát triển này và có lẽ cũng là hậu quả tất yếu, việc liên kết giữa chính sách thương mại với các lĩnh vực chính sách khác nhau thường được đều đặn giới thiệu trong các cuộc thảo luận và đàm phán liên quan đến thương mại quốc tế. Kết quả của xu thế này, các nhà đàm phán thương mại ở WTO và ở nơi khác đã liên kết cùng đồng nghiệp của họ trong các lĩnh vực chính sách khác nhau của việc điều hành quốc gia, hoặc cùng các chuyên gia của các tổ chức quốc tế khác. Đồng thời, tất cả các cuộc thảo luận, đàm phán liên quan đến thương mại ngày càng được giám sát chặt chẽ hơn bởi các phương tiện thông tin đại chúng hùng mạnh đang ngày càng phát triển, bởi sự nảy nở hàng loạt các nhà vận động hành lang cũng như bởi một “tầng lớp dân sự” hầu hết là đại diện của nhiều Tổ chức phi chính phủ (NGOs).

Trân trọng!