1. Vấn đề về hiệu lực của thoả thuận trọng tài

Một thoả thuận trọng tài trước tiên nên có hiệu lực pháp lý. Vấn đề ở đây là có hiệu lực về mặt nào? Và theo luật nào?

Nên nhớ rằng thuật ngữ “thoả thuận trọng tài” có thể đề cập tới hai loại thoả thuận:

- Điều khoản trọng tài, có trong hợp đồng ký kết giữa các bên; và

- Thoả thuận trọng tài, các bên có thể lập vào thời điểm tranh chấp phát sinh và trong trường hợp các bên không quy định điều khoản trọng tài trong hợp đồng.

Những nước theo luật châu Âu lục địa, cả hai khái niệm trên đều được định nghĩa rõ ràng. ở Pháp, điều khoản trọng tài được gọi là “la clause compromissoire” trong khi thoả thuận trọng tài thì gọi là “le compromis d’arbitrage”.  

Hiệu lực của một thoả thuận trọng tài đặc biệt quan trọng. Nhìn chung, các nguyên tắc pháp lý được áp dụng để xác định hiệu lực của thoả thuận trọng tài là những nguyên tắc được sử dụng trong việc xác định hiệu lực của một hợp đồng thương mại thông thường; bởi thực tế thoả thuận trọng tài thường dưới dạng một điều khoản của hợp đồng thương mại. Điều khoản trọng tài thường được điều chỉnh bởi luật điều chỉnh những điều khoản còn lại của hợp đồng và hiệu lực của điều khoản trọng tài sẽ được xem xét theo luật đó. Tuy nhiên, có thể (mặc dù không phổ biến) điều khoản trọng tài được điều chỉnh bởi một luật trong khi phần còn lại của hợp đồng được điều chỉnh bởi một luật khác.

Một số đặc trưng riêng biệt phân biệt thoả thuận trọng tài với các loại thoả thuận khác. Những đặc trưng này liên quan tới năng lực (xem Mục B.3 dưới đây), khả năng giải quyết bằng trọng tài (xem Mục B.2), hình thức (xem mục B.4) và luật áp dụng. Khả năng giải quyết bằng trọng tài và năng lực là hai đặc trưng chính của trọng tài mà có thể gây ra tranh cãi về hiệu lực của một thoả thuận trọng tài. Các yêu cầu về khả năng giải quyết bằng trọng tài và năng lực nên được tuân thủ nhằm đạt được một thoả thuận trọng tài có hiệu lực. Tuy nhiên, các đặc trưng này được điều chỉnh bởi các luật áp dụng khác nhau. Vấn đề về khả năng được xác định theo luật áp dụng cho một bên trong khi vấn đề khả năng giải quyết bằng trọng tài có thể xác định theo các luật khác, kể cả luật của nướcnơi thi hành phán quyết.

Nêu vấn đề “hiệu lực của điều khoản trọng tài” khi bắt đầu trọng tài

Thường vấn đề về hiệu lực của một thoả thuận trọng tài được một trong các bên nêu ra vào một giai đoạn nào đó trong quá trình tố tụng trọng tài.

Khi bắt đầu tố tụng trọng tài, một bên có thể tìm kiếm khước từ thoả thuận trọng tài với lý do thoả thuận đó không có hiệu lực. Thông thường, bên bị tố tụng trọng tài chống lại sẽ là bên đưa ra khước từ. Sự khước từ có thể đưa ra chính uỷ ban trọng tài hoặc một toà án có thẩm quyền.

Nếu các bên đã quy định trong hợp đồng sẽ giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài thường trực, tổ chức trọng tài thường trực có thể, theo các quy tắc áp dụng cho tố tụng trọng tài, quyết định xem liệu có chấp thuận bắt đầu trọng tài trên cơ sở điều khoản trọng tài trong hợp đồng. Thông thường, quyết định này mang tính chất hành chính. Uỷ ban trọng tài sẽ luôn phải ra quyết định mang tính chất pháp lý bắt buộc theo nguyên tắc Thẩm quyền của thẩm quyền đã nêu ở phần trước.

Nếu một tổ chức trọng tài thường trực quyết định không bắt đầu trọng tài với lý do không có điều khoản trọng tài hoặc điều khoản không đề cập tới tổ chức trọng tài thường trực, bên không thoả mãn có thể khiếu kiện ra một toà án quốc gia tại nơi tổ chức trọng tài thường trực có trụ sở.

Nếu uỷ ban trọng tài quyết định là hợp đồng vô hiệu theo luật áp dụng, quyết định này không có nghĩa là điều khoản trọng tài trong hợp đồng cũng vô hiệu. Nguyên tắc này, được coi như “tính tách rời” của các điều khoản trọng tài, được công nhận rộng rãi trong luật trọng tài của các quốc gia.

Nêu vấn đề “hiệu lực của điều khoản trọng tài” khi kết thúc trọng tài

Khi kết thúc tố tụng trọng tài, bất kỳ vấn đề nào về hiệu lực của thoả thuận trọng tài sẽ được nêu lên trong bối cảnh:

- Hành động của bên thua kiện trước toà án quốc gia nhằm khước từ phán quyết hoặc huỷ phán quyết; hoặc

- Hành động chống lại việc công nhận và thi hành phán quyết.

Đặc biệt, bên thua kiện trong trọng tài sẽ cố gắng phủ nhận hiệu lực của thoả thuận trọng tài, trong khi bên thắng kiện sẽ cố gắng duy trì.

Nếu các bên không lựa chọn luật cho thoả thuận trọng tài – trường hợp thông thường – hiệu lực của thoả thuận có thể phải xác định theo luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài, hoặc theo luật của nơi tiến hành xét xử trọng tài, hoặc luật của nơi thi hành phán quyết trọng tài. Thực sự, thậm chí nếu một uỷ ban trọng tài quyết định thoả thuận trọng tài có hiệu lực theo luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài, vấn đề hiệu lực có thể bị toà án quốc gia thẩm tra. Việc này sẽ được tiến hành vào giai đoạn thi hành phán quyết theo luật của nơi thi hành phán quyết. Hơn nữa, nếu một toà án quốc gia nhận được đơn đề nghị huỷ phán quyết, toà án này, sẽ là một toà án ở nơi xét xử trọng tài, sẽ thẩm tra hiệu lực của thoả thuận trọng tài theo luật của nơi xét xử trọng tài.

 

2. Khả năng giải quyết bằng trọng tài

Việc đáp ứng yêu cầu của khả năng giải quyết bằng trọng tài nghĩa là đối tượng tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài. Nếu đối tượng tranh chấp không giải quyết bằng trọng tài, thoả thuận trọng tài sẽ không có giá trị. Các quy tắc xác định khả năng giải quyết bằng trọng tài có thể khác nhau giữa các nước, giữa các hệ thống pháp luật. Các trọng tài viên nên xem xét sự khác biệt này khi xác định một vấn đề liên quan tới khả năng giải quyết bằng trọng tài.

Thực tế, khái niệm khả năng giải quyết bằng trọng tài là một sự hạn chế của trật tự xã hội đối với phạm vi của trọng tài như một phương pháp giải quyết tranh chấp.  Dựa trên trật tự xã hội của mình, mỗi Quốc gia có thể quyết định vấn đề nào có thể giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, vì phải xem xét cả trật tự xã hội của nước nơi thi hành hoặc công nhận phán quyết trọng tài – và vì đây có thể là bất cứ nước nào trên thế giới nơi bên thua kiện có tài sản – các trọng tài viên thường phải tập trung vào các vấn đề mà hầu hết các Quốc gia cho rằng không thể giải quyết bằng trọng tài. Đây thường là các tranh chấp về luật cạnh tranh và các vấn đề mất lòng tin, quan hệ hôn nhân, phá sản và quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, có một vài dấu hiệu thay đổi. Nên nhớ rằng luật án lệ trọng tài và học thuyết luật, ở châu Âu và Hoa Kỳ, bắt đầu công nhận những vấn đề về luật cạnh tranh phát sinh từ hợp đồng quốc tế có thể giải quyết bằng trọng tài – mặc dù có một số hạn chế nhất định.

Công ước Niu-oóc về Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài quy định tại Điều 12 là:

Việc công nhận và thi hành một phán quyết trọng tài cũng cũng có thể bị từ chối nếu cơ quan có thẩm quyền tại quốc gia nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu cho rằng:

a) Đối tượng của sự bất đồng không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của nước đó; …

Hơn nữa, một phán quyết trọng tài có thể bị bác nếu quyết định về một đối tượng không thể giải quyết bằng trọng tài. Đơn đề nghị huỷ phán quyết trọng tài có thể dựa trên lý do không có khả năng giải quyết bằng trọng tài, như quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia và Điều 34(2) của Luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985:

Phán quyết trọng tài có thể bị huỷ bởi toà án được quy định tại Điều 6 nếu:…

…(b) toà án nhận thấy:

(i) đối tượng của tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của Quốc gia này; …

 

3. Các khiếu kiện về hối lộ có thể giải quyết bằng trọng tài không ?

Vấn đề về khả năng xét xử trọng tài cũng nảy sinh khi hối lộ hoặc một số hình thức tham nhũng khác có liên quan. Như đã được công nhận, dù cho nỗ lực của nhiều quốc gia nhằm ngăn chặn nạn tham nhũng, đút lót tài chính và những hình thức đút lót khác tiếp tục là một phần không thể thiếu trong quá trình nhận hợp đồng ở một số nơi trên thế giới. Về thái độ đối với vụ việc mà một bên muốn thực hiện hợp đồng với lý do đã phải đưa tiền hối lội, các trọng tài viên đã thể hiện một số quan điểm trái ngược. Năm 1963, trọng tài viên nổi tiếng (từ trước đến nay), Thẩm phán Lagergren cho rằng các hợp đồng có được do hối lộ là vô hiệu bởi chúng vi phạm trật tự xã hội quốc tế và vì vậy, tranh chấp liên quan tới những hợp đồng đó không thể giải quyết bằng trọng tài. 20 năm sau đó, năm 1983, một trọng tài viên, trong một vụ kiện ở ICC về việc một đại lý đòi hoa hồng theo hợp đồng, đã quyết định rằng ông ta có thẩm quyền nghe vụ tranh chất nhưng hợp đồng đó là không hợp pháp.

 + Về năng lực

Đáp ứng yêu cầu về năng lực nghĩa là các bên trong hợp đồng phải có năng lực pháp lý để ký hợp đồng đó. Ví dụ:

- Một đại diện bán hàng có thể ký kết điều khoản trọng tài trên danh nghĩa người bán không?

- Nếu Bộ trưởng Bộ các công trình công cộng ký một hợp đồng xây dựng nói rõ “đã được thông qua và ký kết”, liệu điều này có đơn giản cho phép một cơ quan hành chính có thẩm quyền thực hiện hợp đồng, hoặc cho thấy dấu hiệu là quốc gia hoặc Bộ trưởng đó sẽ bị ràng buộc bởi hợp đồng?

Nếu một bên không có năng lực đó, hợp đồng là vô hiệu. Các quy tắc xác định năng lực của một bên không thống nhất và có thể khác nhau giữa các nước và giữa các hệ thống pháp luật. Các trọng tài viên nên xem xét sự khác biệt này khi quyết định một vấn đề liên quan đến năng lực.

Với một thể nhân, năng lực chủ yếu liên quan tới tuổi mà người đó có thể bị ràng buộc và độ tuổi này sẽ chủ yếu phụ thuộc vào quốc tịch của người đó và vào luật lệ của nước mà người đó là công dân. Với một công ty, năng lực sẽ được xác định bởi luật áp dụng của nước nơi công ty đó được thành lập.

Nói chung, các quy tắc xác định liệu một bên có thể ký một điều khoản trọng tài hay không sẽ giống như các quy tắc xác định liệu một bên có năng lực ký bất cứ dạng hợp đồng nào không. Điều này có nghĩa là các cá nhân như những người vị thành niên, những người phá sản và những người rối loạn tâm thần không có năng lực ký hợp đồng.

Nếu một bên không có năng lực ký thoả thuận trọng tài, việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối theo yêu cầu của bên phải thi hành phán quyết. Nguyên tắc này có trong Công ước Niu-oóc về Công nhận và Thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài năm 1958. Điều V 1.a) của Công ước quy định việc công nhận và thi hành phán quyết có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành phán quyết, nếu bên đó cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành phán quyết được yêu cầu:

Các bên trong thoả thuận (…), theo luật áp dụng đối với họ, không có đủ năng lực, hoặc thoả thuận nói trên không có hiệu lực theo luật mà các bên đã lập thoả thuận hoặc không có dấu hiệu nào sau đó, theo luật của nước nơi phán quyết được lập.

Vấn đề năng lực của một bên ký thoả thuận trọng tài thường được đặt ra đối với các Quốc gia hoặc các thực thể nhà nước đã ký hợp đồng quy định các tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài. Trong khi ở nhiều nước, không hạn chế nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước ký thoả thuận trọng tài, thì ở một số nước Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước bị cấm ký thoả thuận trọng tài đối với những vấn đề trong nước, hoặc họ chỉ có thể làm như vậy với thẩm quyền đặc biệt. Phán quyết trọng tài có xu hướng duy trì nguyên tắc một Nhà nước ký một thoả thuận trọng tài bị ngăn cản đưa ra lập luận là nó đã không có quyền làm như vậy.

Nguyên tắc các thể nhân của luật Anh- Mĩ có quyền ký các thoả thuận trọng tài có hiệu lực trong các hợp đồng quốc tế không còn bị tranh cãi ở hầu hết những nước châu Âu từ khi nguyên tắc này được đưa vào Công ước châu Âu về Trọng tài thương mại quốc tế, ký tại Giơnevơ ngày 21 tháng 4 năm 1961 dưới sự bảo trợ của Uỷ ban kinh tế châu Âu của Liên Hợp Quốc (Điều II.1 của Công ước).

 + Về hình thức

Bên cạnh những vấn đề về năng lực và khả năng giải quyết bằng trọng tài, hiệu lực của một thoả thuận trọng tài đôi khi cũng phụ thuộc vào hình thức của thoả thuận đó.

Luật Minh KHuê (tổng hợp từ các nguồn trên internet)