Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một trong những loại thuế trực thu quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, được áp dụng đối với thu nhập của cá nhân phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như tiền lương, tiền công, hoạt động kinh doanh, đầu tư vốn hay chuyển nhượng tài sản. Việc thu thuế thu nhập cá nhân không chỉ góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn giúp điều tiết thu nhập trong xã hội, đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư. Để đảm bảo việc thu thuế được thực hiện minh bạch, đúng quy định và phù hợp với từng mức thu nhập, pháp luật quy định cụ thể phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân cũng như các mức thuế suất áp dụng. Do đó, việc hiểu rõ cách tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định mới nhất có ý nghĩa quan trọng đối với người nộp thuế, giúp cá nhân thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và tránh những sai sót trong quá trình kê khai, nộp thuế.

1. Thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm những khoản nào? 

Theo khoản 2 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2025, Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:

- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công

Đây là khoản thu nhập cơ bản mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động trên cơ sở hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận làm việc. Tiền lương, tiền công thường được trả định kỳ theo tháng, tuần hoặc theo khối lượng công việc hoàn thành. Ngoài tiền lương chính, các khoản có tính chất tiền lương như tiền làm thêm giờ, tiền thưởng theo hiệu quả công việc hoặc tiền trả cho những ngày nghỉ có hưởng lương cũng được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Những khoản thu nhập này phản ánh trực tiếp giá trị sức lao động mà cá nhân đã cung cấp trong quá trình làm việc.

- Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức

Bên cạnh tiền lương, cá nhân còn có thể nhận được tiền thù lao hoặc các lợi ích khác từ tổ chức, cá nhân chi trả. Các khoản này có thể phát sinh từ việc tham gia hội đồng quản trị, hội đồng tư vấn, thực hiện dịch vụ, giảng dạy, nghiên cứu hoặc thực hiện các công việc chuyên môn khác. Ngoài việc chi trả bằng tiền, người lao động còn có thể được hưởng các lợi ích bằng hiện vật hoặc các lợi ích khác như nhà ở, phương tiện đi lại, chi phí sinh hoạt hoặc các khoản hỗ trợ khác. Dù được trả bằng tiền hay không bằng tiền, những lợi ích này đều được xem là thu nhập phát sinh từ tiền lương, tiền công.

- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác

Ngoài các khoản thu nhập chính, người lao động còn có thể nhận được các khoản phụ cấp, trợ cấp hoặc thu nhập khác trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế, chẳng hạn như phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó còn có các khoản trợ cấp như trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật. Những khoản này được Nhà nước quy định nhằm đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ người lao động trong những trường hợp đặc biệt.

Từ những quy định trên có thể thấy rằng thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm nhiều khoản khác nhau phát sinh trong quá trình lao động, tuy nhiên pháp luật cũng xác định rõ những khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế nhằm bảo đảm quyền lợi và chính sách an sinh đối với người lao động.

2. Cách tính thuế thu nhập cá nhân với thu nhập từ tiền lương, tiền công (TNCN) theo quy định mới nhất  

Theo quy định Điều 8 của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định dựa trên thu nhập tính thuếbiểu thuế lũy tiến từng phần. Việc tính thuế được thực hiện theo nguyên tắc: trước hết phải xác định tổng thu nhập chịu thuế của người nộp thuế trong kỳ, sau đó trừ đi các khoản được khấu trừ hợp pháp để xác định thu nhập tính thuế, và cuối cùng áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần để tính số thuế phải nộp. Quy định này nhằm bảo đảm tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, bởi những người có mức thu nhập cao hơn sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn so với những người có thu nhập thấp.

3.1. Cách xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (×) với thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Việc tính thuế này được áp dụng chung cho tất cả cá nhân cư trú, không phân biệt nơi trả thu nhập. Điều này có nghĩa là nếu một cá nhân nhận thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau như từ nhiều công ty, tổ chức hoặc cá nhân chi trả thì khi xác định nghĩa vụ thuế vẫn phải tổng hợp các khoản thu nhập đó để tính thuế theo quy định.

Công thức xác định:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Thu nhập tính thuế × Thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần

Ví dụ: Anh A có thu nhập tính thuế trong tháng là 20 triệu đồng. Khi áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, phần thu nhập của anh A sẽ được phân chia theo từng bậc thuế khác nhau. Mỗi bậc thuế tương ứng với một mức thuế suất nhất định và số thuế phải nộp sẽ được tính riêng cho từng phần thu nhập trong từng bậc. Sau đó cộng các khoản thuế này lại để xác định tổng số thuế thu nhập cá nhân mà anh A phải nộp trong kỳ tính thuế.

2.2. Cách xác định thu nhập tính thuế và áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần

Thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công được xác định dựa trên tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, sau đó trừ đi các khoản được khấu trừ theo quy định của pháp luật. Những khoản được trừ bao gồm các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề bắt buộc; khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; khoản chi cho bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ trong giới hạn do Chính phủ quy định; cùng với các khoản giảm trừ theo quy định của pháp luật như giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc.

Công thức xác định:

Thu nhập tính thuế = Tổng thu nhập chịu thuế − các khoản bảo hiểm − các khoản giảm trừ

Sau khi xác định được thu nhập tính thuế, cá nhân sẽ áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần để xác định số thuế phải nộp. Theo khoản 2 Điều 9 Luật thuế thu nhập cá nhân 2025, biểu thuế lũy tiến từng phần được thiết kế theo nhiều bậc thu nhập khác nhau, trong đó mức thuế suất sẽ tăng dần theo mức thu nhập của người nộp thuế.

Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) Thuế suất (%)
1 Đến 120 Đến 10 5
2 Trên 120 đến 360 Trên 10 đến 30 10
3 Trên 360 đến 720 Trên 30 đến 60 20
4 Trên 720 đến 1.200 Trên 60 đến 100 30
5 Trên 1.200 Trên 100 35

Biểu thuế này thể hiện nguyên tắc thuế lũy tiến, tức là chỉ phần thu nhập vượt qua mức của từng bậc mới phải chịu mức thuế suất cao hơn, chứ không phải toàn bộ thu nhập đều áp dụng mức thuế cao nhất.

Ví dụ: Chị B có tổng thu nhập từ tiền lương trong tháng là 30 triệu đồng. Trong tháng chị đóng bảo hiểm bắt buộc 3 triệu đồng và được giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng. Khi đó thu nhập tính thuế của chị B sẽ là:

30 triệu − 3 triệu − 11 triệu = 16 triệu đồng.

Phần thu nhập tính thuế này sẽ được áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần:

  • 10 triệu đồng đầu tiên áp dụng thuế suất 5%.
  • 6 triệu đồng còn lại (từ trên 10 đến 16 triệu đồng) áp dụng thuế suất 10%.

Sau khi tính thuế cho từng phần thu nhập, tổng số thuế phải nộp sẽ được cộng lại để xác định nghĩa vụ thuế của chị B trong kỳ tính thuế.

2.3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế

Theo quy định của pháp luật, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế thực tế nhận được thu nhập. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng kỳ tính thuế và bảo đảm việc kê khai, khấu trừ thuế được thực hiện chính xác.

Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp có thể trả lương cho người lao động vào đầu tháng kế tiếp so với tháng làm việc. Khi đó, thời điểm xác định thu nhập tính thuế sẽ là thời điểm người lao động nhận được khoản tiền lương đó, chứ không phải thời điểm phát sinh công việc.

Ví dụ: Nếu công ty trả lương tháng 12 cho người lao động vào ngày 05 tháng 01 năm sau thì thời điểm xác định thu nhập tính thuế sẽ là ngày 05 tháng 01. Do đó khoản thu nhập này sẽ được tính vào kỳ tính thuế của năm sau theo quy định của pháp luật. Quy định này giúp đảm bảo việc xác định thu nhập và nghĩa vụ thuế của cá nhân được thực hiện rõ ràng, minh bạch và phù hợp với thực tế chi trả thu nhập. 

3. Quy định về thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú có hiệu lực khi nào?

Theo khoản 2,3 Điều 29 Luật thuế thu nhập cá nhân 2025, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng theo lộ trình nhất định. Cụ thể, các quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 và các luật sửa đổi, bổ sung như Luật số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 48/2024/QH15, Luật số 56/2025/QH15, Luật số 71/2025/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 vẫn tiếp tục được áp dụng đối với các khoản thu nhập này cho đến hết kỳ tính thuế năm 2025.

Theo đó, các quy định mới liên quan đến thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ bắt đầu được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Điều này có nghĩa là từ năm 2026 trở đi, việc xác định thu nhập chịu thuế, cách tính thuế và nghĩa vụ thuế của cá nhân cư trú đối với các khoản thu nhập này sẽ được thực hiện theo quy định của luật mới thay thế các quy định trước đây. Quy định về thời điểm áp dụng như vậy nhằm tạo khoảng thời gian chuyển tiếp để cá nhân, tổ chức và cơ quan quản lý thuế có thể chuẩn bị và thích ứng với những thay đổi của chính sách thuế. 

Kết luận 

Cách tính thuế thu nhập cá nhân được xây dựng dựa trên nguyên tắc công bằng và phù hợp với mức thu nhập của từng cá nhân. Thông qua phương pháp tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần, phần thu nhập cao hơn sẽ chịu mức thuế suất cao hơn, trong khi những người có thu nhập thấp chỉ phải nộp thuế ở mức thấp hơn hoặc không phải nộp thuế sau khi trừ các khoản giảm trừ theo quy định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.