Thưa luật sư, xin luật sư cho biết thiệt hại do giảm sút thu nhập, lợi nhuận khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xác định như thế nào? Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề này?

Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thảo - Hà Nam

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005

>> Xem thêm:  Thiệt hại là gì? Các loại thiệt hại phải được bồi thường theo Bộ luật dân sự hiện hành ?

- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP

2. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với những tài sản vô hình, những tài sản được hình thành dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người. Mặt khác, một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà cũng có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba – người tiêu dùng trong xã hội và cũng có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích của xã hội. Do vậy việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng quan trọng không kém việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản thông thường.

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng như thế giới đã có những quy định rất cụ thể để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thể hiện bằng hai cách. Trong đó cách thứ hai được nhiều chủ thể quyền áp dụng do tính hữu hiệu của nó. Khi các chủ thể quyền áp dụng cách thức thứ hai để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình thì tùy tính chất của hành vi vi phạm, mức độ vi phạm mà sẽ áp dụng biện pháp hành chính, biện pháp dân sự hay biện pháp hình sự. Trong đó biện pháp dân sự mà cụ thể là bồi thường thiệt hại được đánh giá là hướng đến tác động vào tài sản của người có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, khôi phục lại những thiệt hại vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên để có thể đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại theo nguyên tắc của bồi thường “thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó” thì việc xác định thiệt hại trên thực tế là một vấn đề rất quan trọng..

3. Quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về thu nhập, lợi nhuận

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 “thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại”.

Như vậy có thể nói sự giảm sút về thu nhập, lợi nhuận là một loại thiệt hại về vật chất. Theo đó năm 2005, Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và Thông tư số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT và DL-BKH và CN-BTP ngày 3 tháng 4 năm 2008, Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân đã có quy định chi tiết thế nào là thu nhập, lợi nhuận. Khoản 1 Điều 18 của Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định:

“Thu nhập, lợi nhuận quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;…”

Thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chính là khoản thu nhập, lợi nhuận dựa trên việc khai thác, sử dụng những đối tượng sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể như chủ sở hữu sáng chế sản xuất sản phẩm được bảo hộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 124 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và bán sản phẩm đó thu lợi nhuận. Việc chủ sở hữu sáng chế sản xuất những sản phẩm và bán ra thị trường những sản phẩm được bảo hộ và họ là những chủ thể có quyền thì khoản lợi ích vật chất thu được từ hoạt động khai thác trực tiếp tài sản trí tuệ được xem là lợi nhuận. Hay việc tác giả của tác phẩm được hưởng một khoản tiền nhuận bút do hành vi sử dụng tác phẩm của một người khác được tác giả cho phép sử dụng thì khoản tiền nhuận bút chính là thu nhập, lợi nhuận.

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

Cũng theo khoản 1 Điều 18 của Nghị định trên,

“b) Thu nhập, lợi nhuận thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính).”

Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh hoặc chương trình máy tính thực hiện quyền tài sản quy định tại điểm e khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và được nhận tiền thù lao, các quyền lợi vật chất khác của tổ chức, cá nhân được thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính đó. Những khoản tiền thù lao hoặc các quyền lợi vật chất khác xuất phát từ hoạt động này đó chính là thu nhập, lợi nhuận. Theo khoản 1 Điều 18 của Nghị định trên,

“c) Thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.”

Thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là những lợi ích vật chất mà chủ thể quyền thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng cho người khác đối tượng sở hữu trí tuệ có được. Ví dụ: chủ sở hữu sáng chế ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng sáng chế cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng sáng chế và được nhận khoản tiền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo thoả thuận. Đây chính là thu nhập, lợi nhuận.

Như vậy pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là thu nhập, lợi nhuận trong hoạt động khai thác, sở hữu các quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên pháp luật đã có sự liệt kê cụ thể những lợi ích vật chất thu được từ việc khai thác các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để xác định thu nhập, lợi nhuận phát sinh.

4. Quy định về tính mức giảm sút của thu nhập, lợi nhuận và việc áp dụng trong thực tiễn

4.1. Quy định về tính mức giảm sút của thu nhập, lợi nhuận

Về mặt lý thuyết, thu nhập, lợi nhuận bị mất là căn cứ quan trọng để tính toán thiệt hại của người bị vi phạm bởi trên thực tế, đây là thiệt hại cơ bản và thường là thiệt hại lớn nhất của nguyên đơn làm chủ sở hữu quyền. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 không đề cập cụ thể đến cách tính mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận nhưng trong Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT và DL-BKH và CN-BTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân có quy định chi tiết về vấn đề này. Theo đó có thể khái quát thành những bước như sau để tính thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút:

Bước thứ nhất:

+ So sánh trực tiếp mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm, tương ứng với từng loại thu nhập, lợi nhuận đã được liệt kê;

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

+ Hoặc so sánh sản lượng, số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thực tế tiêu thụ hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm;

+ Hoặc so sánh giá bán thực tế trên thị trường của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm.

Bước thứ hai:

Trên cơ sở những sự so sánh này có thể xác định thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút. Cụ thể:

+ Nếu thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại sau khi xảy ra hành vi xâm phạm thấp hơn thu nhập, lợi nhuận trước khi xảy ra hành vi đó, thì khoản chênh lệch đó là thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút. Trong đó cần chú ý đến các yếu tố khách quan tác động đến sự tăng hoặc giảm thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại không liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm xác định thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút chính xác.

+ Đối với trường hợp có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhưng khi xác định thiệt hại tại thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm so với thời điểm trước khi xảy ra hành vi xâm phạm, thu nhập, lợi nhuận của bên bị xâm phạm tuy không giảm sút, nhưng so với thu nhập, lợi nhuận thực tế đáng lẽ ra họ phải có được nếu không có hành vi xâm phạm vẫn bị giảm đi, thì trường hợp này cũng được coi là thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút.

Trên đây theo quy định của pháp luật là căn cứ vào sự so sánh thu nhập, lợi nhuận của bên bị xâm phạm trước và sau khi có hành vi xâm phạm để xác định mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận. Tuy nhiên trong trường hợp không thể xác định được cụ thể thiệt hại thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.

4.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định mức thiệt hại do bị giảm sút thu nhập, lợi nhuận

Trên thực tế khi xem xét thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút do có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để xác định thiệt hại khi có yêu cầu bồi thường, Tòa án cũng căn cứ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

Chẳng hạn trong một tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về vật chất gồm rất nhiều khoản như trả tiền nhuận bút là 6.935.000đ; bồi thường thiệt hại vật chất 5.000.000đ; bồi thường khoản lợi nhuận 14.000.000đ; trả tiền khai thác kinh doanh tác phẩm âm nhạc trên môi trường kỹ thuật số là 2.900.000đ. Thực chất tất cả những khoản liệt kê mà nguyên đơn yêu cầu này đều là thiệt hại về mặt vật chất. Trong đó khoản tiền nhuận bút, lợi nhuận, tiền khai thác kinh doanh tác phẩm âm nhạc đều là thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút. Khi giải quyết thì Tòa án đã xem xét và “chấp nhận khoản tiền nhuận bút. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất số tiền 5.000.000đ theo khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ, điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, xét đây là khoản thu nhập mà người bị thiệt hại thu được từ việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là có căn cứ chấp nhận. Về khoản lợi nhuận mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả từ việc sản xuất đĩa CD là 14.000.000đ và khoản tiền lợi nhuận do việc kinh doanh tác phẩm âm nhạc trên môi trường kỹ thuật số là 2.900.000đ, Hội đồng xét xử căn cứ vào trình bày của bị đơn xác nhận số đĩa phát hành chủ yếu là tặng, không bán được vì bản thân ông Đăng không phải là ca sĩ nổi tiếng là có căn cứ, phù hợp với xác nhận của Công ty cổ phần TT-ĐẢ Sài Gòn tại công văn số 28/CV-VPHP-05 ngày 24/10/2008, như vậy khoản lợi nhuận này phía bị đơn chưa được hưởng và chưa phát sinh, phía nguyên đơn cũng không có chứng cứ nào chứng minh việc bị đơn đã thu được khoản lợi nhuận từ việc sử dụng ca khúc “Giấc mơ vô vọng” của nguyên đơn, do đó yêu cầu đòi số tiền 14.000.000đ (tương đương 10% trên giá tiền đĩa CD trên số băng phát hành) và 2.900.000đ là không có căn cứ chấp nhận”. Như vậy ở đây Tòa án xem xét đến việc bị đơn không thu được lợi nhuận vì số lượng băng đĩa chưa được bán mà chỉ để tặng để bác yêu cầu của nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại. Vụ việc này mặc dù đã có hành vi vi phạm nhưng không thể so sánh thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút vì bị đơn không thu được lợi nhuận từ hành vi trái pháp luật này cũng như chưa bán được sản phẩm nào ra thị trường mà chủ yếu các đĩa CD dùng để tặng. Trong trường hợp giả sử nếu bị đơn đã bán những băng đĩa này ra thị trường thì đây sẽ là cơ sở để có thể xác định thu nhập bị giảm sút bằng cách so sánh thu nhập trước và sau khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền tác giả. Nhưng cũng từ vụ việc này để có thể thấy rằng dường như khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bên vi phạm phải thu được lợi nhuận thì mới là một trong những căn cứ để xác định lợi nhuận bị giảm sút để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn trong trường hợp bên xâm phạm mặc dù đã có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa thu được lợi nhuận (như hàng mới sản xuất ra chưa bán) thì không có căn cứ để xác định thiệt hại mà yêu cầu bồi thường.

Tuy nhiên, vấn đề xác định thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định để có thể tính toán thiệt hại theo quy định của pháp luật. Không phải trong mọi trường hợp đều có thể so sánh và đưa ra được một số liệu về giảm sút thu nhập, lợi nhuận cụ thể để tính toán thiệt hại. Do vậy, lúc này nhiều khi Tòa án sẽ xem xét rất linh động và căn cứ vào mức độ thiệt hại để xác định mức bồi thường bảo vệ quyền lợi của các bên.

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

Cụ thể, có thể xem xét trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng là kiểu dáng công nghiệp. Sau khi Tòa án xem xét và giải quyết đã chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Ý Thiên, yêu cầu Công ty liên doanh Nhã Quán phải bồi thường thiệt hại, khi xem xét đến thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút thì Tòa án đã có nhận định “Công ty Ý Thiên đã chọn hình thức bồi thường thiệt hại theo luật định là có cơ sở chấp nhận, vì công ty Ý Thiên mới được thành lập tháng 6/2007, đến tháng 7/2007 nhận chuyển nhượng kiểu dáng công nghiệp từ công ty Trường Sanh và đến tháng 8/2007 ra thông báo cho công ty Nhã Quán về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Với khoảng thời gian ngắn như vậy thì công ty Ý Thiên không thể đánh giá được một cách chính xác khoản thu nhập bị mất và những thiệt hại khác là có căn cứ. Việc đánh giá về mức thu nhập bất hợp pháp của công ty Nhã Quán trong việc sử dụng trái phép các kiểu dáng của công ty Ý Thiên cũng không thể thực hiện được. Bởi vì, hiện nay giữa công ty Trường Sanh và công ty Nhã Quán đang có tranh chấp về hợp đồng liên doanh và TAND tỉnh Bình Dương đã có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, buộc công ty Nhã Quán cung cấp tài liệu, chứng từ kế toán để kiểm toán, nhưng không được ông Kuo Chi Sheng chấp hành. Hiện nay cả Tòa án và đương sự đều không tiếp cận được các chứng từ kế toán. Trong vụ tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp này, công ty Nhã Quán cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu nào nên Tòa án cũng không có cơ sở đánh giá chính xác thu nhập của Nhã Quán từ việc sử dụng các kiểu dáng công nghiệp thuộc quyền sở hữu của công ty Ý Thiên. Vì vậy, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo luật định của công ty Ý Thiên là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Xét mức bồi thường về vật chất, HĐXX xét thấy công ty Nhã Quán đã có lỗi cố ý sản xuất hàng hóa có kiểu dáng đã được bảo hộ của công ty Ý Thiên tiêu thụ trên địa bàn nhiều tỉnh liên tục trong khoảng thời gian từ khi được thông báo (27/8/2007) đến nay và vi phạm đối với nhiều kiểu dáng, nên mức bồi thường do Tòa án ấn định là 400.000.000đ là thỏa đáng”. Trong trường hợp này do không xác định cụ thể được mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận nên Tòa án đã ấn định mức bồi thường, căn cứ vào yếu tố lỗi, khu vực địa lý có hành vi phạm và đồng thời nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm (400.000.000 đồng).

Tuy nhiên việc đưa ra một mức bồi thường ấn định không phải là việc dễ dàng. Trong một vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ do hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã có nhiều cách xác định thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút giữa các cấp xét xử. Cụ thể, “…nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại coi số lượng thuốc POSINIGHT mà các bị đơn đã tiêu thụ chính bằng số lượng POSTINOR mà nguyên đơn lẽ ra có thể tiêu thụ được là không có căn cứ, vì trong quá trình kinh doanh, Công ty Trung Nam và Công ty Dược Bình Dương phải áp dụng nhiều biện pháp hợp pháp như khuyến mại, quảng cáo…. Để tiêu thụ sản phẩm của mình và việc Công ty Gedoen bị giảm sút lợi nhuận không chỉ do bị các bị đơn cạnh tranh không lành mạnh, mà còn do nhiều tác động khách quan của thị trường sản phẩm thuốc tránh thai. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn để xác định mức lợi nhuận của Công ty Gedoen bằng 30% doanh thu bán hàng, trên cơ sở đó xác định mức thiệt hại của Công ty Gedoen là không có căn cứ vững chắc. Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng pháp luật chưa có quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nên đã cho rằng yêu cầu của các nguyên đơn là không đúng”. Sau đó vụ án này lại được xem xét lại sơ thẩm một lần nữa năm 2010 thì Tòa án đã xác định mức thiệt hại là một con số khác “hành vi của phía bị đơn đã gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và hậu quả xấu cho phía nguyên đơn nên áp dụng mức bồi thường tối đa là 500.000.000 đồng để buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn là hợp lý”. Trong trường hợp này khi Tòa án đưa ra mức bồi thường tối đa, Tòa án dường như không nêu cụ thể lý do mà chỉ nhận định chung là hành vi trái pháp luật đã gây hậu quả nghiêm trọng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Vụ việc thực tế về việc xác định giữa trường hợp "súc vật gây thiệt hại" với "hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc vật"

Câu hỏi thường gặp về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Câu hỏi: Căn cứ xác định có tổn thất thực tế do bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là gì?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định

Được coi là có tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau đây:

- Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại;

- Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích quy định tại điểm a khoản này;

- Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

Câu hỏi: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là gì?

Trả lời:

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây được áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó:

- Thu giữ;

- Kê biên;

- Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;

- Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.

- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Câu hỏi: Nguyên đơn trong vụ kiện về sở hữu trí tuệ cần chứng minh là chủ thể quyền thông qua tài liệu nào?

Trả lời:

Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:

a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;

b) Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng;

c) Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.