1. Cơ sở pháp lý đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

- Trong Bộ luật dân sự trước đât, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra được quy định tại Điều 626. Theo Điều luật này, khi cây cối “đổ, gẫy” gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này cho thấy, điều luật chỉ được áp dụng để giải quyết các trường hợp cây thân gỗ gây thiệt hại. Đối với các trường hợp những loại cây thân cỏ gây thiệt hại như đã phân tích trong phần khái niệm ở trên, cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại cũng là Điều 626. Tuy nhiên, quy định tại Điều 626 không được áp dụng trực tiếp mà phải áp dụng gián tiếp thông qua quy định có liên quan đến áp dụng tương tự pháp luật tại Điều 3 của Bộ luật.

- Quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra trong Bộ luật dân sự năm 2015 được kế thừa nhưng có những sửa đổi so với Bộ luật trước đó. Tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

Theo quy định này, nếu cây cối gây thiệt hại (bất kể do đổ, gẫy, cháy, độc tố phát ra, hoặc do bất cứ nguyên nhân nào) mà đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cơ sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015.

Có thể nói đây là sự thay đổi mang tính đột phá của quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.

Quy định này của Bộ luật sẽ bao quát được toàn bộ các trường hợp bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, giúp cho tòa án có cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh trên thực tiễn.

2. So sánh quy định căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hai căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra đó là thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.

Khi so sánh với Bộ luật dân sự trước đây có điểm khác biệt, điểm khác biệt giữa hai Bộ luật này là ở chỗ:

- Trong bộ luật dân sự trước đây, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định trong Điều 626 về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra và trách nhiệm bồi thường sẽ chắc chắn được loại trừ nếu xảy ra một trong hai căn cứ này;

- Đối với Bộ luật dân sự năm 2015, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được quy định tại Điều 604 về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra mà lại được quy định chung tại khoản 2 Điều 584 về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."

Hơn nữa, theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, ngay cả khi xảy ra hai căn cứ này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn có thể không được loại trừ nếu các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

=> Như vậy, quy định về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật dân sự năm 2015 vừa có những điểm kế thừa, vừa có những điểm thay đổi so với Bộ luật dân sự trước đây.

3. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo pháp luật hiện hành

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

- Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015

Theo đó, đối với Bộ luật dân sự năm 2015, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được quy định tại Điều 604 về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra mà lại được quy định chung tại khoản 2 Điều 584 về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."

Mặc dù sự thay đổi này thể hiện sự thống nhất mang tính nguyên tắc của Bộ luật dân sự năm 2015, đảm bảo căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được áp dụng như nhau bất kể hành vi gây ra thiệt hại hay tài sản gây ra thiệt hại.

Nhưng việc đưa ra hai yếu tố làm vô hiệu hóa căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại dường như vẫn chưa thực sự hợp lý. Về tính hợp lý của nội dung quy định “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, nội dung của quy định “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” là không có tính thực tế.

Bởi vì, mặc dù theo quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, các bên có thể thỏa thuận “về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần”, nhưng những thỏa thuận này chỉ diễn ra khi trách nhiệm bồi thường đang tồn tại.

Còn đối với trường hợp trách nhiệm bồi thường đã được loại trừ hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng (chủ sở hữu, người chiếm hữu không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại), thì việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cây cối lại thỏa thuận với người bị thiệt hại để buộc mình phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại là phi thực tế. Nếu có thì chỉ là chủ sở hữu, người chiếm hữu tự nguyện hỗ trợ một phần thiệt hại cho người bị thiệt hại chứ đó không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ.

Do đó, quy định về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 cần phải được sửa đổi để đảm bảo quy định đó có tính thực tế theo hướng cần loại bỏ cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

4. Nghĩa vụ chứng minh các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

- Việc chứng minh các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra là nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối.

Trong đó, chỉ khi đưa ra được các yếu tố phù họp với quy định về sự kiện bất khả kháng tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu mới được loại trừ trách nhiệm theo căn cứ loại trừ là sự kiện bất khả kháng. Đối vói căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại “hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại”.

Chủ sở hữu và các chủ thể khác phải chứng minh được hai nội dung:

- Đã tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan đến việc xén rễ, tỉa cành, chặt bỏ cây nguy hiểm,...;

- Người bị thiệt hại đã có sự tiếp xúc không cần thiết đối với cây cối tại thời điểm cây cối có nguy cơ gây ra thiệt hại

Ví dụ: Người bị thiệt hại nhận thức được cây cối có khả năng đổ, gẫy, có chất độc hại,... nhưng vẫn tiếp xúc, vẫn ngồi hóng mát dưới gốc cây,...

Nếu chủ sở hữu chỉ chứng minh được một trong hai nội dung này thì coi như chủ sở hữu cũng có một phần lỗi và sẽ không được loại trừ trách nhiệm, và việc bồi thường thiệt hại sẽ tuân theo nguyên tắc tại khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi.

Đây là điểm giống với căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, nhưng lại là điểm khác biệt so với căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

5. Quy định của pháp luật một số quốc gia về vấn đề liên quan

>> Xem thêm:  Vụ việc thực tế về việc xác định giữa trường hợp "súc vật gây thiệt hại" với "hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc vật"

Khi nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia, các quốc gia này không đưa ra bất cứ căn cứ loại trừ trách nhiệm nào đối với trường họp cây cối gây thiệt hại. Tuy nhiên, một số các quốc gia này lại đưa ra nguyên tắc bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra trên cơ sở lỗi, cụ thể:

Bộ luật Dân sự Pháp không đưa ra căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối hoặc do tài sản nói chung gây ra, nhưng lại phân chia các trường họp cây cối gây thiệt hại để xác định nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Trong đó, đối với trường họp cây cối bị cháy mà gây ra thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh nếu người có trách nhiệm quản lý có lỗi trong việc quản lý;

Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan cũng xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể theo những nguyên tắc khác nhau.

Trong đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu và người thứ ba dựa phát sinh trên cơ sở lỗi. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phát sinh không từ yếu tố lỗi mà từ các quyền đối với tài sản mà họ được hưởng.

=> Kết luận: Có thể thấy, mặc dù không quy định về các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng có thể thấy ở một khía cạnh nào đó, pháp luật của các quốc gia nói trên cũng có sự tương đồng với pháp luật Việt Nam. N

hìn từ quy định của pháp luật Việt Nam về các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, có thể thấy rằng khi xảy ra các căn cứ loại trừ này, chủ sở hữu và các chủ thể khác cũng hoàn toàn không có lỗi. Suy cho cùng, việc loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo pháp luật Việt Nam cũng căn cứ vào việc chủ thể có lỗi hay không có lỗi và đó là điểm tương đồng với pháp luật của những quốc gia như phân tích ở trên.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Muốn nộp đơn ly hôn có thể nộp ở đâu? Mức án phí bao nhiêu?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cơ sở pháp lý đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra được quy định ở đâu?

Trả lời:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

(Bộ luật dân sự năm 2015)

Câu hỏi: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật dân sự hiện hành?

Trả lời:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

(Bộ luật dân sự năm 2015)

Câu hỏi: Căn cứ nào không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ?

Trả lời:

"Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."

(khoản 2 điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015)