1. Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị. Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.
Bến cảng bao gồm cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng vào bên cảng và các công trình phụ trợ khác.
Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu biển neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Kết cấu hạ tầng cảng biển bao gồm kết cấu hạ tầng bến cảng và kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển. Kết cấu hạ tầng bên cảng bao gồm cầu cảng, vùng nước trước cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng nhánh cảng biển và các công trình phụ trợ khác được xây dựng, lắp đặt cố định tại vùng đất cảng và vùng nước trước cầu cảng. Kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển bao gồm luồng cảng biển, hệ thống báo hiệu hàng hải và các cổng trình phụ trợ khác.
Luồng cảng biển là phần giói hạn vùng nước từ biển vào cảng được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ để bảo đảm cho tàu biển và các phương tiện thủy khác ra, vào cảng biển an toàn. Luồng nhánh cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ luồng cảng biển vào bến cảng, được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ, để bảo đảm cho tàu biển và các phương tiện thủy khác ra, vào bến cảng an toàn. Thuật ngữ này còn được gọi là “harbour”.
2. Bên trái của tàu là phía bên trái của tàu nhìn từ phía đuôi (phía sau) tàu, còn gọi là “port side”.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về khái niệm trên:
1. Cảng biển và đặc điểm của cảng biển?
Theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 có xác định một số nội dung về đặc điểm của cảng biển như sau:
+ Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời đề bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.
+ Cảng dầu khí ngoài khơi là công trình được xây dựng, lắp đặt tại khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hoá và thực hiện các dịch vụ khác;
+ Kết cấu hạ tầng cảng biển bao gồm cầu cảng, vùng nước trước cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, trụ sởi dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước và các công trình phụ trợ khác được xây dựng, lắp đặt cố định tại vùng đất cảng và vùng nước cầu cảng.
+ Khu nước, vùng nước bao gồm vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão trong vùng nước cảng biển.
+ Cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thuỷ nội địa nằm trong vùng kiểm dịch, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão trong vùng nước cảng biển chịu sự quản lý nhà nước về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng chống cháy, nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của Bộ luật hàng hải và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Tiêu chí xác định cảng biển:
- Có vùng nước nối thông với biển;
- Có điều kiện địa lý tự nhiên đáp ứng yêu cầu xây dựng cầu, bến cảng, khu neo đậu, chuyển tải và luồng hàng hải cho tàu biển đến, rời, hoạt động an toàn;
- Có lợi thế về giao thông hàng hải;
- Là đầu mối giao thông phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá trong nước, vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và trung chuyển bằng đường biển.
- Phân loại cảng biển:
Theo quy định, cảng biển được phân loại như sau:
+ Tiêu chí về phạm vi ảnh hưởng của cảng biển:
- Cảng biển đặc biệt là cảng biển có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng và có chứuc năng trung chuyển quốc tế hoặc cảng cửa ngõ quốc tế;
- Cảng biển loại I là cảng biển có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng;
- Cảng biển loại II là cảng biển có quy mô vừa phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng;
- Cảng biển loại III là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương..
+ Tiêu chí về quy mô của cảng biển:
Tiêu chí về quy mô của cảng biển được đánh giá trên cơ sở sản lượng hàng hoá thông quá và cỡ trọng tải tàu được tiếp nhận tại cảng biển, thông qua các chỉ tiêu sau:
- Sản lượng hàng hoá thông qua cảng biển;
- Cỡ trọng tải tàu tiếp nhận tại cảng biển.
Hiện nay, quyết định số 804/QĐ-TTg của Phó thủ tướng chính phủ công bố danh mục 34 cảng biển Việt Nam. Theo danh mục, trong 34 cảng biển Việt Nam có 2 cảng biển loại đặc biệt là cảng biển Hải Phòng và cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong đó,
- 11 cảng biển loại I gồm: Cảng biển Quảng Ninh, Cảng biển Thanh Hoá, Cảng biển Nghệ An, Cảng biển Hà Tĩnh, Cảng biển Đà Nẵng, Cảng biển Quảng Ngãi, Cảng biển Bình Định, Cảng biển Khánh Hoà, Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, Cảng biển Đồng Nai, Cảng biển Cần Thơ;
- 7 cảng biển loại II gồm: Cảng biển Quảng Bình, Cảng biển Quảng Trị, Cảng biển Thừa Thiên Huế, Cảng biển Bình Thuận, Cảng biển Đống Tháp, Cảng biển Hậu Giang và Cảng biển Trà VInh;
- Danh dách 14 cảng biển còn lại: Nam Định, Thái Bình, Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang là cảng biển loại III.
Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 07 năm 2021 quy định tiêu chí phân loại cảng biển. Theo Nghị định này, tiêu chí để đánh giá, phân loại các cảng biển tại Việt Nam gồm tiêu chí về phạm vi ảnh hưởng của cảng biển và tiêu chí về quy mô của cảng biển.
Tiêu chí về phạm vi ảnh hưởng của cảng biển được đánh giá trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, qua các chỉ tiêu sau: cảng biển phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, hoặc liên vùng và có chức năng trung chuyển quốc tế, hoặc cảng cửa ngõ quốc tế; cảng biển phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng; cảng biển phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, cảng biển phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tiêu chí về quy mô của cảng biển được đánh giá trên cơ sở sản lượng hàng hoá thông qua và cỡ trọng tải được tiếp nhận tại cảng biển, thông qua các chỉ tiêu sau: Sản lượng hàng hoá thông qua cảng biển; cỡ trọng tải tàu tiếp nhận tại cảng biển.
Nghị định cũng quy định việc đánh giá, phân loại cảng biển theo phương thức chấm điểm. Thang điểm đánh giá là 100 điểm. Thang điểm đánh giá được xác định cụ thể đối với từng tiêu chí. Dựa vào số điểm, cảng biển được đánh giá và phân loại thành 4 loại, đó là:
- Cảng biển đặc biệt: có tổng số điểm chấm đạt trên 90 điểm;
- Cảng biển loại I: có tổng số điểm chấm đạt trên 70 điểm đến 90 điểm;
- Cảng biển loại II: có tổng số điểm chấm đạt từ 50 điểm đến 70 điểm;
- Cảng biển loại III: có tổng số điểm chấm dưới 50 điểm.
Theo đó, các căn cứ để đánh giá, phân loại hiện trạng cảng biển bao gồm:
- Số liệu về phạm vi ảnh hưởng của cảng biển được căn cứ theo quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
- Số liệu về quy mô của cảng biển sử dụng số liệu thống kê hàng hoá thông qua cảng biển trung bình trong 03 năm gần nhất của Cục Hàng hải Việt Nam và sử dụng số liệu về cỡ trọng tải tàu tiếp nhận tại cảng biển theo các quy định công bố mở bến cảng, cầu cảng của Cục Hàng hải Việt Nam trong năm gần nhất.
Việc phận loại cảng biển khi lập quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch cảng biển phải căn cứ vào số liệu về hàng hoá, cỡ trọng tải tàu dự kiến từng thời kỳ quy hoạch và các tiêu chí theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Chức năng và nhiệm vụ của cảng biển
- Chức năng của cảng biển:
+ Phục vụ tàu biển: Cảng là nơi ra vào neo đậu của tàu, là nơi cung cấp các dịch vụ đưa đón tàu ra vào, lai dắt, cung ứng, vệ sinh, sửa chữa tàu biển.
+ Phục vụ hàng hoá: Cảng phải làm nhiệm vụ xếp, dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, phân phối hàng hoá xuất nhập khẩu. Cảng còn là nơi tiến hành các thủ tục xuất nhập khẩu, là nơi bắt đầu, tiếp tục hoặc kết thúc quá trình vận tải.
+ Chức năng vận chuyển, bốc xếp hàng hoá: Trong hệ thống vận tải quốc gia, cảng biển là điểm hội tụ của các tuyến vận tủa khác nhau (đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không). Đây là một đầu mối giao thông chính, tập trung cho mọi phương thức vận tải và các cảng biển thực hiện chức năng vận tải thông qua việc phân phối hàng hoá.
+ Chức năg thương mại và buôn bán quốc tế: với vị trí là đầu mối của các tuyến đường vận tải: đường sông, đường sắt, đường bộ, đường hàng không, ... ngay từ đầu mới thành lập, các cảng biển đã là địa điểm tập trung trao đổi buôn bán của các thương gia từ khắp mọi miền, tại các vùng cảng có vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi như nằm trên các trục đường hàng hải quốc tế nối liền các châu lục, các khu vực phát triển kinh tế năng động, ... thì hoạt động trao đổi kinh doanh, thương mại lại càng diễn ra sôi động hơn. Các vùng cảng này nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại không chỉ của khu vực mà còn của cả thế giới.
+ Chức năng công nghiêpk và cung ứng nhiên liệu: Các vùng cảng biển là những địa điểm thuận lợi cho việc xây dựng những nhà máy xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau vì nó cho phép tiết kiệm được chi phí vận tải rất nhiều, nhất là những nhà náy sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu, đồng thời xuất khẩu sản phẩm của nó bằng vận tải đường biển sẽ đạt được sự tiết kiệm rất lớn, hạ giá thành sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Ngoài ra các xí nghiệp công nghiệp này còn có thể liên kết với nhau tạo thành một chu trình sản xuất đồng bộ và hiệu quả.
- Nhiệm vụ của cảng biển:
Các cảng biển ở Việt Nam có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cảng biển trong phạm vi trách nhiệm;
- Phối hợp hoạt động của các tổ chức, cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành tại cảng biển;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn cảng và luồng ra, vào cảng;
- Phối hợp với các cơ qun hữu quan thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hoặc xử lý sự cố ô nhiễm môi trường;
- Cấp giấy phép cho tàu ra, vào cảng và thực hiện các yêu cầu về bắt giữ, tạm giữ hàng hải;
- Yêu cầu các cá nhân, cơ quan hữu quan cung cấp các thông tin, tài liệu để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của cảng.
Hiện nay, cảng biển có các loại như: cảng thương mại (Commercial Ports), cảng quân sự (Military), cảng cá (Fishing Ports), cảng trú ẩn (Ports Refuge). Đối với cảng thương mại (cảng buôn) lại được phân thành nhiều loại: cảng biển tự nhiên (Ocean Ports), cảng sông biển (River - Sea Ports), cảng nội địa (Domestic Ports), cảng quốc tế (International Ports), cảng tổng hợp (General Ports), cảng chuyên dùng (Specializated Ports).
3. Cảng biển được đặt tên như thế nào?
- Nguyên tắc đặt tên cảng biển:
Theo quy định tại điều 77 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi bởi khoản 3 điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch năm 2018) quy định về cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước phải được đặt tên và theo nguyên tắc sau đây:
+ Cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước được đặt tên khi lập qu hoạch, lập dự án đầu tư xây dựng, công bố đưa vào sử dụng theo đề nghị của chủ đầu tư, cơ quan, tổ chức liên quan.
+ Không đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước đã công bố hoặc không đúng với tên gọi, chức năng của cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước đó.
+ Không sử dụng tên cơ quan nhà nướ, đơn vị lực lượng vũ trang, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, trừ trường hợp có sự đồng ý của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.
+ Không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc để đặt tên.
Bên cạnh đó, theo nghị định 58/2017/NĐ-CP cũng có quy định như sau:
- Cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước được đặt tên theo nguyên tắc đã được pháp luật quy định;
- Tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước phải được viết bằng tiếng Việt, có thể kèm theo tên bằng tiếng Anh, bắt đầu là cụm từ "Bến cảng", "Cầu cảng"; "Bến paho"; "Khu"; "Vùng" và tên riêng của công trình.
Theo đó, việc đặt tên, đổi tên cảng biển được quy định tại Nghị định 58/2017/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 về quản lý hoạt động vận tải có quy định như sau:
1. Việc đặt tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước trên cơ sở đề nghị của chủ đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan.
2. Thẩm quyền quyết định đổi tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước:
- Bộ Giao thông vận tải quyết định đổi tên cảng biển và cảng dầu khí ngoài khơi;
- Cục hàng hải Việt Nam quyết định đổi tên bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước.
3. Thủ tục đổi tên cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước, cảng dầu khí ngoài khơi đã được công bố:
- Chủ đầu tư hoặc người khai thác gửi trực tiếp hoặc gửi bằng hình thức phù hợp khác đến Cục hàng hải Việt Nam văn bản đề nghị đổi tên cảng biển theo quy định;
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quy định, Cục hàng hải Việt Nam có văn bản trình Bộ giao thông vận tải xem xét quyết định đối với đề nghị đổi tên cảng biển hoặc cảng dầu khí ngoài khơi; quyết định đổi tên bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Hàng hải Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải xem xét và ra quyết định đổi tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi. Trường hợp Bộ giao thông vận tải không chấp thuận, Bộ giao thông vận tải thông báo cho cụ hàng hải Việt Nam để có văn bản thông báo cho chủ đầu tư hoặc người khai thác cảng biển để đặt lại tên cho phù hợp.
4. Bên trái của tàu (Port) là gì
Từ những ngày đầu tiên, khi con người chế tạo thành công tàu chạy trên sông, trên biển thì cầu trúc của tàu lúc đó có nhiều điểm khác so với cấu trức của những con tàu hiện đại ngày nay. Khi đó, người lái tàu thường đứng ở cuối tàu và dùng một bánh lái để điều khiển hướng đi của tàu. Điểm khác là ở chỗ, thời kỳ đó, bánh lái không đặt ở dưới đuôi tàu như bây giờ mà lại đặt ở phía bên mạn phải của tàu.
Vậy, Mạn trái (port) và mạn phải (starboard) của tàu biển có nghĩa là gì? Hầu hết các bạn có thể đã nghe về thuật ngữ bên trái (mạn trái) và bên phải (mạn phải) liên quan đến tàu biển. Đây thực sự là những thuật ngữ hàng hải dùng để chỉ phía bên trái và phái bên phải của con tàu khi bạn đang nhìn từ phía sau hướng về phía mũi tàu (phái trước của con tàu - còn được gọi là fore). Phần phía sau của con tàu được gọi là stern (còn có tên gọi khác là aft). Có nhiều câu trả lời về lịch sử của tên gọi port và starboard như được nêu dưới đây.
Trước khi tàu có bánh lái mà trục của nó nằm trên mặt phẳng trực dọc - mặt phẳng chia đôi tàu theo đường trục dọc - tàu/thuyền được lái bằng cách sử dụng mái chèo chuyên dụng. Mái chèo này được giữ và điều khiển bởi một người chèo lái nằm ở đuôi tàu (phía sau của tàu). Tuy vậy, giống như phần lớn mọi người trong xã hội, có nhiều thuỷ thủ thuận tay phải hơn là thuận tay trái. Điều này có nghĩa mái chèo lái (đã được mở rộng để kiếm soát việc điều khiển tốt hơn) đã từng được gắn vào mạn phải của con tàu thuyền.
Thuật ngữ "bên trái " bắt nguồn từ thực tế của các thuỷ thủ buộc tàu ở phía bên trái tại các cảng để tránh cho mái chèo không bị hư hỏng do va đập với cầu cảng. Qua bảo tàng Longboat ở Oslo, người ta biết rằng một chiếc thuyền dài của người Viking được lái bởi một tấm gỗ lớn gọi là "ván lái". Ngày nay thường gọi là "bánh lái", đôi khi gọi là "bánh rẽ nước". Ván lái được vận hành bởi người lái tàu, quay mặt về phía trước và vì hầu hết mọi người đều thuận tay phải, nên anh ta đương nhiên sẽ điều khiển ván lái bằng tay phải của mình. Vì ván lái luôn ở bên phải nên phía bên phải của con tàu được gọi là "phía ván lái". Sau này, thuật ngữ "steer-board" (ván lái) được hoà trộn vào ngôn ngữ tiếng Anh và phát triển thành "starboard" (mạn phải).
Một phiên bản khác cho rằng, ngày xưa, trước khi bản đồ ra đời, việc đi biển được thực hiện bằng cách căn cứ vào sự sắp đặt của các vì sao trên bàu trời. Thông thường, những thuyền buồm, tàu buồm cũ có cột buồm và buồm dài, điều này làm ảnh hưởng đến tầm nhìn của người lái tàu. Vì vậy, các thuỷ thủ đã làm một boong kéo dài ra phía bên phải để quan sát các vì sao và tiếp tục hành trình đi biển. Nhờ vậy, môth thuỷ thủ có thể ngồi trên boong kéo dài này và độc vị trí các ngôi sao để báo cho thuỷ thuỷ lái tàu biết.
Boong sử dụng để quan sát các vì sao và quyết định tuyến đường đi biển được gọi là boong mạn phải. Vì boong mở rộng này nằm ở phía bên phải nên chỉ có thể đưa mạn phía bên kia của tàu cấp cảng (port) nên nó được đặt tên là mạn tàu"phía cảng" (port-side) và đây cũng chính là mạn trái của tàu. Sau khi bánh lái hiện đại có trục nằm trên mặt phẳng trục dọc - mặt phẳng chia đôi tàu theo đường trục dọc - được phát triển thì không còn nhất thiết phải cho tàu cập bến cảng bằng mạn phải hoặc mạn trái của tàu tuỳ tình hình cụ thể về an toàn, thời tiết, dòng chảy của cảng.
Mạn trái của tàu có đèn hành trình (đèn mạn) màu đỏ, mạn phải có đèn hành trình (đèn mạn) màu xanh. Tàu cũng có đèn màu trắng trên cột và tại đuôi tàu (thường gọi là phía sau, phía lái, đuôi tàu), khi kết hợp với đèn xanh và đỏ sẽ giúp xác định hướng di chuyển của tàu dễ dàng hơn vào ban đêm. Những đèn hành trình này quan trọng và giúp ích rất nhiều trong quá trình tàu tuân thủ COLREGS (Quy tắc phòng tránh tàu thuyền đâm va trên biển). Những đèn này dùng để xác minh hướng đi và vị trí của tàu vào ban đêm cũng như được sử dụng trong trường hợp tàu đi đối hướng (người chiều nhau), cắt nhau hoặc vượt nhau. Ví dụ, nếu có hai tàu đang đi đối hướng nhau, mỗi tàu nên chuyển hướng sang phải để đi ngược chiều nhau ở mạn trái của mỗi tàu trừ khi có thông báo khác theo quy tắc phòng tránh đam va khi hành trình.
Tóm lại, khi mạn phải đã là "starboard side", tức là bên có bánh lái, thì tàu không thể nào cập cầu bằng bên mạn đó được mà buộc phải cập bằng mạn bên kia, tức mạn trái. Vì thế mạn trái của tàu được gọi là "port side", trong đó chữ "port"có nghĩa là "cảng", còn "side" thì như đã giải thích, nó mang ý nghĩa là "mạn tàu luôn cắp vào cầu cảng". Tên gốc của phái bên trái của con tàu không phải là "cổng", mà là "bæcbord" của tiếng Anh cổ. Điều này có lẽ ám chỉ một thực tế là trên những chiếc thuyền lớn hơn, người lái xe thường phải giữ tay lái bằng cả hai tay, nên lưng của anh ta sẽ ở phía bên trái của con tàu. Nên bên trái của tàu là phía bên trái của tàu nhìn từ phía đuôi (phía sau) tàu, và được gọi là "port side".
Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê về cảng biển, hy vọng bài viết này sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho quy bạn đọc. Cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm đến bài viết của công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng!