Hiệu lực hợp đồng lao động từ ngày 14/09/2015 đến ngày 13/09/2016. Bên cạnh đó, Công ty yêu cầu tôi ký Hợp đồng đào tạo thời gian 36 tháng từ 14/09/2015 đến 13/09/2018 với các nội dung tóm tắt như sau (xem thêm chi tiết tại file đính kèm):

- Chí phí đào tạo:

1. Chi phí tự đào tạo: 51.000.000 đồng/36 tháng. Chi phí này được Bên A thanh toán trong luơng kinh doanh hàng tháng vào tài khoản.

2. Chi phí do bên A đào tạo cho Bên B: theo chi phí thực tế của Bên A đã thanh toán cho Bên B để tham gia các khóa học, các báo cáo chuyên đề, các buổi hội thảo do Bên A, các tổ chức khác tổ chức tại Việt Nam, nước ngoài: đuợc xác định trong từng phụ lục hợp đồng. - Điều kiện cam kết làm việc: Tôi phải cam kết làm việc cho Cty thời gian 36 tháng.

- Điều kiện bồi thường: Nếu vi phạm điều kiện thời gian làm việc không đủ 36 tháng, tôi phải đền bù:

1. Toàn bộ chi phí tự đào tạo: 51.000.000 đồng/36 tháng. Chi phí này được Bên A thanh toán trong luơng kinh doanh hàng tháng vào tài khoản.

2. Chi phí do bên A đào tạo cho Bên B: theo chi phí thực tế của Bên A đã thanh toán cho Bên B để tham gia các khóa học, các báo cáo chuyên đề, các buổi hội thảo do Bên A, các tổ chức khác tổ chức tại Việt Nam, nước ngoài: đuợc xác định trong từng phụ lục hợp đồng.

Tình hình thực hiện HĐ Đào tạo này trong thực tế:

1, Đối với khoản chi phí tự đào tạo: Tôi đã làm việc cho Cty được 10 tháng, cho đến nay tôi vẫn chưa nhận được bất cứ khoản chi phí đào tạo nào được chi vào tài khoản của tôi theo như nội dung mục (1) về chi phí tự đào tạo như đã nêu trong hợp đồng. Điều này có thể được chứng minh qua sao kê tài khoản lương phát sinh hàng tháng, tôi chỉ nhận đủ đúng số tiền theo HĐ lao động và thư mời làm việc có ghi rõ mức lương, không có bất cứ khoản chi nào khác liên quan đến chi phí tự đào tạo như đã nêu.

 2, Đối với chi phí do bên A đào tạo cho bên B theo từng khóa học... được xác định bằng các phụ lục hợp đồng: Chưa có phát sinh bất cứ phụ lục nào để xác định các khóa học tôi đã tham gia. (Không phát sinh).

>> Xem thêm:  Bị sa thải có được thanh toán lương ? Bồi thường chi phí đào tạo khi sa thải

---> Công ty chưa chi trả bất cứ chi phí nào liên quan đến HĐ Đào tạo nói trên.

Nay tôi nộp đơn xin nghỉ việc có báo trước 30 ngày và được Giám đốc Cty xác nhận (file đính kèm). Trong quá trình thực hiện thanh lý nghỉ việc Phòng Nhân sự thông báo với tôi là tôi vi phạm cam kết thời gian làm việc và phải đền bù toàn bộ số tiền 51 triệu đồng chi phí tự đào tạo. Tôi thấy việc này hoàn toàn không hợp lý theo quy định tại điều 37 và điều 62 của Bô luật lao động hiện hành: - Chi phí tự đào tạo là một chi phí rất mơ hồ và không được định nghĩa rõ ràng ---> không phù hợp với quy định tại điều 37 và điều 62 về nội dung của Hợp đồng đào tạo, chứng từ liên quan đến chi phí đào tạo: Chi phí đào tạo phải phát sinh theo khóa học cụ thể, thời gian học, chi phí học ... phải có chứng từ rõ ràng cụ thể và phải có xác nhận của nguời lao đồng về các chứng từ này. - Đến thời điểm hiện tại Công ty chưa chi bất cứ chi phí nào cho tôi theo dung của hợp đồng, cũng như phát sinh bất cứ lớp đào tạo nào do tôi ký phụ lục xác nhân ---> Việc không có phát sinh chi phí theo hợp đồng mà đòi người lao động phải đền bù như vậy liệu có phù hợp? Xin Quý Luật Sư tư vấn cho tôi về việc này và trong trường hợp Công ty không giải quyết cho tôi thôi việc theo đúng quý định thì tôi phải làm gì? Tôi rất chân thành cảm ơn và mong chờ phản hồi từ Công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Chấm dứt hợp đồng có phải bồi thường chi phí đào tạo ?

Luật sư tư vấn lao động gọi: 1900.6162

 

Trả lời :

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động 2012 

Nội dung phân tích:

Do hợp đồng lao động của bạn có thời hạn 01 năm cho nên khi chấm dứt hợp đồng lao động bạn phải tuân theo quy định tại điều 37 Bộ luật lao động 2012, cụ thể là :

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.".

Hơp đồng của bạn là hợp đồng xác định thời hạn nên chỉ được chấm dứt khi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, điều 37. bạn mới làm được 10 tháng mà đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật , do đó không phải là lý do được chấp nhận khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì :

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Tuy nhiên, nếu người sử dụng lao động đồng ý thì đây là trường hợp thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Do vậy, bạn sẽ không phải bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

 Có phải bồi thường chi phí đào tạo ?

- Trong trường hợp hợp đồng học nghề tồn tại độc lập với hợp đồng lao động :

Trong quá trình làm việc, bạn chưa tham gia khóa học và chưa được trả kinh phí đào tạo và có cam kết làm đến tháng 9/2018, nếu không làm hết hợp đồng thì bồi hoàn toàn bộ chi phí. Giữa bạn và công ty tồn tại hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề độc lập, không nằm trong hợp đồng lao động. Theo điều 62 Bộ luật lao động 2012 thì :

" Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung sau:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;

c) Chi phí đào tạo;

d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;

đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động”.

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 thì các trường hợp phải bồi thường chi phí đào tạo bao gồm :

+ Người học đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề.

+ Học xong không làm việc cho doanh nghiệp.

+ Học xong không làm đủ thời gian đã cam kết.

Do vậy, dù bạn có chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật thì bạn vẫn phải bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo do bạn không làm đủ thời hạn đã cam kết.

Về mức khấu trừ phải xem xét trong hợp đồng đào tạo. Trong nội dung hợp đồng có điều khoản bạn cam kết làm đến thời hạn hợp đồng, nếu không làm hết hợp đồng thì bồi hoàn toàn bộ chi phí. Như vậy, nếu bạn chấm dứt không làm cho doanh nghiệp vào thời điểm này thì bạn phải bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo mà không được khấu trừ thời gian đã làm. Theo đó, chi phí đào tạo bao gồm các chi phí theo điều 62 Bộ luật lao động 2012, cụ thể là : "3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài."

- Trong trường hợp hợp đồng đào tạo là một phần của hợp đồng lao động :

Điều 43, khoản 3, Bộ luật lao động 2012 quy định như sau : Trách nhiệm của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật là "Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.".

Như vậy, trong trường hợp này thì bạn phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nếu chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Mức hoàn trả xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ở đây vẫn là hoàn trả 100%. Tuy nhiên, công ty của bạn lại chưa chuyển khoản cho bạn số tiền 51 triệu đồng, dó đó bạn cũng sẽ không phải hoàn trả lại chi phí đào tạo, đồng thời người sử dụng lao động đồng ý trường hợp thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn cũng sẽ không phải bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Bạn có thể phản hồi lại quyết định nhầm lẫn của công ty bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Lao động.

 

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật với giáo viên dạy cấp 2 theo hợp đồng ?