Trả lời

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật lao động năm 2012

2. Luật sư trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với loại hợp đồng không xác định thời hạn.

Khỏan 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 có quy định:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động....

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Dẫn chiếu đến Điều 156 Bộ luật lao động 2012 như sau:

Điều 156. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hõan hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai.

Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Từ hai căn cứ trên ta thấy rằng: Đối với loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn người lao động chỉ cần thông báo trước tới người sử dụng lao động biết trước ít nhấ là 45 ngày ( trừ trường hợp tại Điều 156 Bộ Luật lao động có thể ngắn hơn 45 ngày) và không cần sự đồng ý của người sử dụng lao động. Khi bạn thông báo về việc chấm dứt hợp đồng từ đủ 45 ngày trở lên thì bạn sẽ thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định pháp luật.

Thứ hai, về trợ cấp thôi việc.

Quy định về trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012 như sau: 

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trường hợp của bạn thuộc khỏan 9 Điều 36 Bộ luật lao động 2012:

"9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này."

Do đó, khi chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khỏan 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 bạn vẫn sẽ thuộc trường hợp được chi trả trợ cấp thất nghiệp.

Lưu ý: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Nếu ngay từ khi bắt đầu làm việc ở công ty người sử dụng lao động đã đóng tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho bạn thì mức hửởng trợ cấp thôi việc của bạn sẽ bằng 0.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn.Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê