1. Những điểm mới về chế định giám định tư pháp trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Nhiều trường hợp, kết luận giám định còn có nghĩa trực tiếp giúp các cơ quan tố tụng xác định là tội phạm hay không phải tội phạm, xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm làm căn cứ để quyết định hình phạt (giám định thương tích, nguyên nhân chết người, mức độ ô nhiễm môi trường...). Chất lượng giám định liên quan chặt chẽ đến chất lượng và hiệu quả của nền tư pháp. Do đó, hoàn thiện chế định giám định tư pháp là đòi hỏi khách quan của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ ra nhiều hạn chế chung quanh chế định này. Bộ luật này chỉ dành 05 điều để quy định về giám định là chưa tương xứng với tầm quan trọng và tính chất phức tạp của vấn đề. Việc thiếu quy định về thời hạn đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến chậm trễ trong giám định hiện nay. Thiếu cơ chế giải quyết xung đột trong trường hợp có nhiều kết luận khác nhau về cùng một đối tượng trưng cầu, làm bó tay các cơ quan tố tụng...
Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có được những điều chỉnh quan trọng:
Thứ nhất, xây dựng 10 điều luật điều chỉnh đầy đủ các nội dung liên quan đến giám định.
Thứ hai, bổ sung đầy đủ những vấn đề cần phải trưng cầu giám định nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan, toàn diện trong quá trình chứng minh vụ án (Điều 206).
Thứ ba, phân nhóm hợp lý các vấn đề cần trưng cầu và quy định thời hạn giám định cho từng nhóm (Điều 206 và Điều 208).
Thứ tư, bổ sung những người có quyền yêu cầu giám định trên cơ sở giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng (Điều 207).
Thứ năm, xác lập cơ chế nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình trưng cầu và sử dụng kết quả giám định; theo đó, quy định trách nhiệm của cơ quan trưng cầu giám định trong thời hạn 24 giờ phải gửi quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám định cho Viện kiểm sát, trong thời hạn 07 ngày phải thông báo kết luận giám định cho người tham gia tố tụng (các điều 205, 213, 222).
Thứ sáu, nhằm bảo đảm tính khách quan, Bộ luật quy định cụ thể thành phần và thủ tục giám định bổ sung và giám định lại (Điều 210 và Điều 211).
Thứ bảy, bổ sung cơ chế nhằm giải quyết xung đột giữa các kết luận giám định; theo đó, quy định trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền quyết định giám định lại và kết luận giám định trong trường hợp này có hiệu lực để giải quyết vụ án (Điều 212).
Những sửa đổi, bổ sung nêu trên sẽ tháo gỡ căn bản những vướng mắc trong công tác giám định. Đồng thời, đặt ra trách nhiệm cao hơn cho cơ quan tố tụng và cơ quan giám định phải phối hợp chặt chẽ nhằm để bảo đảm nguyên tắc kịp thời, chính xác, tiết kiệm trong tố tụng hình sự.
2. Những trường hợp cần phải trưng cầu giám định
Điều 206 của BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, gồm:
- Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
- Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
- Nguyên nhân chết người;
- Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
- Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
- Mức độ ô nhiễm môi trường.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự hiện nay các cơ quan tiến hành tố tụng đang gặp phải vướng mắc từ quy định của BLTTHS năm 2015 về những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định.
Ví dụ:
Ngày 12/8/2018, Nguyễn Thanh P đột nhập vào nhà của ông T vào lúc nửa đêm đã lấy trộm số vàng theo lời khai của bị hại là 01 sợi dây chuyền 5 chỉ vàng 24K và 01 chiếc nhẫn 03 chỉ vàng 18K. Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh P khai nhận đã vào nhà ông T trộm lấy số tài sản trên và đem đi bán tại Tiệm vàng K với số tiền là 22.000.000 đồng. Làm việc với ông K là chủ Tiệm vàng K cho biết là có mua của một người 01 sợi dây chuyền và 01 chiếc nhẫn với số tiền 22.000.000 đồng nhưng số vàng này đã bán cho người khác và không biết người mua vàng ở đâu.
Tuy nhiên, vụ việc này có hai ý kiến về việc trưng cầu giám định:
Ý kiến thứ nhất, cho rằng tài sản mà P trộm là vàng nên theo quy định tại khoản 5 Điều 206 của BLTTHS năm 2015 thì bắt buộc phải trưng cầu giám định đối với số vàng đã trộm.
Ý kiến thứ hai, cho rằng mặc dù khoản 5 Điều 206 của BLTTHS năm 2015 có quy đình vàng là thuộc trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, số vàng mà P trộm hiện không thu giữ được nên không thể trưng cầu giám được vì không có vật để giám định. Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ vào số tiền mà P bán vàng và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự P về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.
3. Thời hạn giám định
Điều 208 có thể coi như quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự. Dựa trên cơ sở tại điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc tiến hành giám định, điều luật bổ sung các quy định cụ thể về thời hạn giám định.
Việc quy định cụ thể thời hạn giám định góp phần đảm bảo tính kịp thời, không bị kéo dài hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hình sự. Thời hạn giám định cũng được chia theo các trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định và trường hợp khác.
Giám định là hoạt động chuyên môn phức tạp, đa dạng liên quan tới nhiều lĩnh vực. Các loại giám định khác nhau sẽ đòi hỏi thời hạn khác nhau. Thời hạn giám định cụ thể quy định như sau:
a) Không quá 03 tháng đối với trường hợp giám định xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội, người làm chứng hoặc bị hại theo khoản 1 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Không quá 01 tháng đối với trường hợp giám định xác định nguyên nhân chết người, xác định mức độ ô nhiễm môi trường quy định lần lượt tại khoản 3 và khoản 6 Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Không quá 09 ngày đối với trường hợp giám định xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại, xác định tình trạng thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động và xác định chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ quy định lần lượt tại các khoản 2, 4 và 5 Điều 206 của Bộ luật này.
4. Người có quyền yêu cầu giám định
Tại khoản 1 Điều 207 BLTTHS 2015 quy định:
“Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định."
Một điểm mới quan trọng của Bộ luật này là quy định quyền của đương sự hoặc người đại diện của họ tự mình yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Quy định quyền này là nhằm bảo đảm cho đương sự hoặc người đại diện của họ có điều kiện thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phù hợp với quy định của Luật giám định tư pháp.
Bộ luật này quy định quyền yêu cầu giám định của đương sự hoặc người đại diện của họ nhưng chưa có quy định về nội dung văn bản yêu cầu giám định và thủ tục yêu cầu giám định nên vấn đề này được thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012.
5. Giám định lại, giám định bổ sung
Điều 210, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về giám định bổ sung như sau:
“(1) Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp: (a) Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ; (b) Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó. (2) Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện. (3) Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu”.
Giám định bổ sung là trường hợp giám định tiếp theo việc giám định lần đầu khi có những căn cứ luật định, cụ thể:
- Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ. Đây là trường hợp kết luận giám định không đáp ứng về nội dung so với yêu cầu giám định nêu trong quyết định trưng cầu giám định.
- Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã cố kết luận giám định trước đó.
Điều luật không yêu cầu việc giám định bổ sung phải do tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Do đó, việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định thực hiện hoặc do tổ chức, cá nhân khác thực hiện, tùy thuộc vào cơ quan trưng cầu giám định.
Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.
Bên cạnh quy định về giám định bổ sung, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định về giám định lại. Căn cứ và thủ tục giám định lại được quy định chặt chẽ hơn.
Căn cứ để giám định lại khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Kết luận giám định có ý nghĩa đối với việc thu thập, xác lập chứng cớ, củng cố chứng cứ, kiểm tra chứng cứ.
Kết luận giám định sai có thể dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Do tính chất quan trọng như vậy, điều luật quy định việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.
Giám định lại có thể tiến hành lần thứ hai khi có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định. Việc giám định lần hai do người trưng cầu giám định quyết định và phải do Hội đồng giám định thực hiện.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý về lĩnh vực cần giám định quyết định thành lập Hội đồng để thực hiện giám định lại lần thứ hai. Hội đồng giám định gồm có ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo cơ chế giám định tập thể quy định tại khoản 3 Điều 28 của Luật Giám định tư pháp.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)