Vấn đề quản lí không đơn thuần chỉ là xây dựng, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lí đất đai mà quan trọng là nêu được các nội dung quản lí, quy định chặt chẽ về mặt pháp lí các nội dung của nó. Cho nên, nói đến quản lí đất đai một cách tổng quát nhất tức là nêu hai mặt của một vấn đề: hệ thống cơ quan quản lí đất đai và các nội dung của chế độ quản lí nhà nước về đất đai.

1. Vai trò quản lý đất đai của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước:

Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương có vai trò vô cùng to lớn trong việc quản lí mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Trong quản lí đất đai, vai trò to lớn này trước đây chưa được đánh giá một cách đầy đủ và đúng mức. Kế thừa Luật đất đai năm 2003 trong việc quyết định các chính sách của cơ quan quyền lực nhà nước, Luật đất đai năm 2013 xác định rõ thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.

Nội dung của chế độ quản lí nhà nước về đất đai theo Luật đất đai năm 2013 dành một chương để quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của Nhà nước, từng nội dung, vai trò tổ chức, chỉ đạo và quyết định của hệ thống cơ quan hành chính nhà nưởc. Trên thực tế, thẩm quyền cụ thể của Chính phủ và UBND các cấp được quy định trong từng nội dung của chế độ quản lí. Khoản 3 Điều 21 Luật đất đai năm 2013 giao cho Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai theo thẩm quyền được quy định trong luật.

Các nội dung cơ bản này sẽ được trình bày ở các phần sau. Vì vậy, có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan có thẩm quyền chung như sau:

- Chính phủ và UBND các cấp thống nhất việc quản lí đất đai ở trung ương và ở từng địa phương.

- Tổ chức chỉ đạo và thực hiện các nội dung cụ thể của chế độ quản lí nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22 Luật đất đai.

2. Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai ?

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, đất đai, Bảo hiểm y tế ?

Cơ quan chuyên ngành quản lí đất đai đã trải qua ba thời kì: Tổng cục quản lí ruộng đất năm 1979 đến năm 1994, Tọng cục địa chính từ năm 1994 đến 2002 và là Bộ tài nguyên và môi trường từ năm 2002 đến nay.

Để tăng cường quản lí các nguồn tài nguyên và lĩnh vực môi trường, Nghị định của Chính phủ số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 ra đời quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường cũng như các loại hình tổ chức dịch vụ công trong quản lí và sử dụng đất nhằm cụ thể hoá Điều 23 và 24 Luật đất đai năm 2013. Theo đó, hệ thống này bao gồm các loại cơ quan sau:

3. Các tổ chức dịch vụ công trong quản lí và sử dụng đất

Từ trước đến nay, trong quản lí nhà nước về đất đai, những thủ tục hành chính liên quan đến giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thủ tục để xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thủ tục hành chính thực hiện các quyền của người sử dụng đất thường gây nhiều khó khăn cho người sử dụng đất. Vì vậy, một trong những mục tiêu của pháp luật đất đai là cải cách căn bản các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất, bàn giao mặt bằng trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong phạm vi cả nước. Cho nên, bên cạnh việc tổ chức, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lí chuyên ngành về đất đai,- các tổ chức dịch vụ công trong quản lí và sử dụng đất đã được quy định trong Luật đất đai năm 2013. Các tổ chức đó bao gồm: văn phòng đăng kí đất đai, tổ chức phát triển quỹ đất và tổ chức hoạt động tư vấn trong quản lí và sử dụng đất.

3.1 Văn phòng đăng kí đất đai

Cơ quan này là tổ chức sự nghiệp thuộc sở tài nguyên và môi trường, thuộc phòng tài nguyên và môi trường của UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Văn phòng đăng kí đất đai có chức năng tổ chức thực hiện đăng kí QSDĐ, quản lí hồ sơ địa chính và thực hiện thủ tục hành chính trong quản lí, sử dụng đất đai theo cơ chế '‘‘‘một cửa”. Nghị định của Chính phủ số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thi hành Luật đất đai đã quy định những thủ tục hành chính trong quản lí, sử dụng đất đai và thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất, trong đó thể hiện vai trò quan trọng của văn phòng đăng kí đất đai trong mọi công việc.

- Văn phòng đăng kí đất đai trực thuộc sở tài nguyên yà môi trường có các nhiệm vụ sau: Đăng kí đất đai đồng thời nhận những giấy tờ pháp lí cần thiết tại nơi này. Đây là bước phát triển mới trong việc minh bạch hoá các thủ tục hành chính tại cơ quan công quyền và tạo ra các tiện ích để phục vụ nhân dân của các cơ quan nhà nước.

3.2 Tổ chức phát triển quỹ đất

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về việc giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và trực tiếp quản lí quỹ đất đã thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư. Quy định trên xác định việc thu hồi đất thực hiện theo hai cơ chế.

>> Xem thêm:  Đất đai có mồ mả giải quyết thế nào khi có tranh chấp ? Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ?

Thứ nhất, trong trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và đã có dự án đầu tư thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định thu hồi đất, thực hiện việc bồi thường giải phóng mặt bằng và bàn giao quỹ đất cho các nhà đầu tư.

Thứ hai, trong trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố nhung chưa cỏ dự án đầu tư thì UBND cấp tỉnh ra quyết định thu hồi đất và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất tổ chức thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và quản lí quỹ đất này.

Như vậy, tổ chức phát triển quỹ đất theo quy đ:Ịnh của Luật đất đai năm 2013 là tổ chức do ƯBND cấp tỉnh ra quyết định thành lập theo loại hình hoạt động sự nghiệp có thu hoặc doanh nghiệp công ích có chức năng phát triển quỹ đất, vận động và xúc tiến đầu tư vào khu vực quy hoạch nhưng chưa có các dự án đầu tư.

Tổ chức phát triển quỹ đất có các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Thực hiện việc quản lí quỹ đất sau thu hồi theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định sộ 43/2014/NĐ-CP.

- Hoạt động dịch vụ tư vấn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường, UBND xã trong việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết;

- Hoạt động dịch vụ tư vấn về đo đạc, lập bản đồ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường.

- Hoạt động dịch vụ về đấu giá QSDĐ.

- Hoạt động dịch vụ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Như vậy, với việc thành lập các loại hình tổ chức dịch vụ công trong quản lí và sử dụng đất đai, thủ tục hành chính được quy về các đầu mối giúp cho người sử dụng đất nhanh chóng tiếp cận các quyền của mình và góp phần làm cho cơ quan nhà nước quản lí đất đai với hiệu quả cao hơn.

>> Xem thêm:  Tư vấn việc cho thuê nhà xưởng ? Mẫu hợp đồng cho thuê nhà xưởng ?

4. Các quy định về quản lý địa giới và điều tra cơ bản về đất đai

4.1 Các quy định về quản lí địa giới

Đất đai là bề mặt bao trùm toàn bộ chủ quyền quốc gia trên đất liền và các hải đảo. Vì vậy, quản lí địa giới hành chính nhà nước cũng là một nội dung quan trọng trong quản lí nhà nước về đất đai. Trên cơ sở Nghị đỉnh của Chính phủ số 119/CP ngày 16/9/1994 ban hành quy định về việc quản lí, sử dụng hồ sơ địa giới, bản đồ địa giới và mốc địa giói hành chính các cấp, Luật đất đai năm 2013 đã luật hoá trách nhiệm của Chính phủ, Bộ nội vụ, Bộ tài nguyên và môi trường, UBND các cấp trong việc xác định địa giới hành bằng 1/3 tỉnh Bắc Ninh.

Qua những thực tế nêu trên, để quản lí đất đai có hiệu quả thì việc xác lập hồ sơ địa giới hành chính và bản đồ hành chính là rất cần thiết. Các công việc đó có sự phân công, phân cấp rõ về trách nhiệm của từng bộ, ngành và các cấp chính quyền để các địa phương chủ động quản lí địa giới, phòng ngừa vi phạm trong quản lí địa giới.

4.2 Điều tra cơ bản về đất đai

Để đánh giá đúng số lượng, chất lượng đất phải thông qua việc điều ứa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến đất đai như: điều tra, khảo sát và phân hạng đất đai. Trong đó, công tác điều tra, khảo sát, lấy mẫu phân tích hàm lượng thành phần các chất hữu cơ, vô cơ, vĩ lượng có trong đất, xác định những yếu tố thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng đất đai là biện pháp chủ yếu để nắm chất lượng đất, từ đó, phân hạng đất cho từng mục đích sử dụng (trồng trọt, xây dựng) của từng lô, khoảnh, khu đất nhất định.

Đây là việc làm rất quan trọng vì nó tạo cơ sở ban đầu (công tác điều tra cơ bản về đất) phục vụ việc quản lí đất đai ữên hai phương diện: lập các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xác định giá đất.

Số liệu diện tích, chất lượng đất chính xác thì việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mới bảo đảm tính khả thi.

Số lượng diện tích đất và việc xác định những yếu tố thuận lợi cho trồng trọt, xây dựng chính xác là một trong những điều kiện quyết định hình thành giá đất sát với thực tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Người sử dụng đất có những quyền và nghĩa vụ gì?