1. Xác định chi phí lãi vay khi doanh nghiệp phát sinh giao dịch liên kết

Theo quy định tại Công văn 238/TCT-TTKT 2024 thì trong trường hợp doanh nghiệp có xuất hiện các giao dịch liên kết trong phạm vi được quy định và đối tượng áp dụng theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP, việc xác định chi phí lãi vay trừ được sẽ tuân theo những quy định chi tiết tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan. Đồng thời, chi phí này cũng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 của Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, ban hành ngày 05/11/2020, do Chính phủ ban hành. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về khấu trừ chi phí lãi vay trong ngữ cảnh giao dịch liên kết của doanh nghiệp.

Do đó, theo quy định chi tiết của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, tổng chi phí lãi vay được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với doanh nghiệp tham gia giao dịch liên kết là tổng hợp của các chi phí lãi vay sau khi loại bỏ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ đó. Điều này giúp tạo ra sự rõ ràng và minh bạch trong quá trình xác định thu nhập chịu thuế TNDN, đồng thời đảm bảo tính công bằng và phản ánh đúng đắn những yếu tố chi phí lãi vay thực tế của doanh nghiệp liên quan đến giao dịch liên kết.

Những khoản chi phí lãi vay không được khấu trừ do vượt quá mức 30%, sẽ được dời sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ. Thời gian chuyển đổi này được duy trì liên tục và không vượt quá 05 năm, bắt đầu tính từ năm tiếp theo sau năm mà chi phí lãi vay không được khấu trừ xuất hiện. Điều này giúp đảm bảo quá trình tính toán thuế được thực hiện một cách linh hoạt và công bằng, đồng thời tạo cơ hội cho doanh nghiệp điều chỉnh chi phí lãi vay của mình theo thời gian một cách hiệu quả và có kế hoạch.

Quy định về không áp dụng các hạn chế về khấu trừ chi phí lãi vay đối với nhóm đối tượng nhất định mở ra một hướng tiếp cận linh hoạt và hiệu quả trong việc xử lý thuế, đặc biệt là khi áp dụng đối với những tổ chức có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và bảo hiểm của đất nước.

- Thứ nhất, đối với các tổ chức tín dụng, nếu chúng phát sinh chi phí lãi vay vượt quá mức 30%, quy định này giúp giữ cho họ không bị ràng buộc bởi giới hạn khấu trừ này. Điều này đặc biệt quan trọng với các tổ chức tín dụng, vì chúng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và cá nhân.

- Thứ hai, đối với các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, quy định tương tự cũng mang lại lợi ích lớn. Trong ngữ cảnh của ngành bảo hiểm, sự linh hoạt trong việc quản lý chi phí lãi vay giúp họ duy trì tính ổn định và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người đóng bảo hiểm.

- Các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cùng với các khoản vay ưu đãi từ Chính phủ, được thực hiện thông qua cơ chế Chính phủ đi vay nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp đang vay lại;

- Các nguồn vốn vay được chỉ định cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, như chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững;

- Các nguồn vốn vay đặc biệt dành cho các chương trình và dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước, bao gồm nhà ở tái định cư, nhà ở cho công nhân và sinh viên, nhà ở xã hội, cùng với các dự án phúc lợi công cộng khác.

Do đó, khi hai doanh nghiệp thiết lập mối quan hệ bảo lãnh hoặc cung cấp vốn cho một doanh nghiệp khác dưới bất kỳ hình thức nào, những trường hợp này sẽ chịu ảnh hưởng của quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Theo đó, chi phí lãi vay trong ngữ cảnh giao dịch liên kết của doanh nghiệp được xác định dựa trên những nguyên tắc và quy định cụ thể được quy định tại nghị định nói trên.

Quy định này không chỉ tạo ra sự minh bạch trong quá trình xác định chi phí lãi vay mà còn đảm bảo tính công bằng và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Nghị định, từ đó thúc đẩy một môi trường kinh doanh lành mạnh và minh bạch hơn giữa các doanh nghiệp liên quan.

 

2. Quan hệ bảo lãnh hoặc cho vay vốn giữa hai doanh nghiệp là quan hệ liên kết?

Cũng tại Công văn 238/TCT-TTKT 2024 thì trong trường hợp mà một doanh nghiệp, kể cả tổ chức tín dụng như ngân hàng, đảm nhận vai trò bảo lãnh hoặc cung cấp vốn cho một doanh nghiệp khác dưới mọi hình thức, nếu chúng tuân theo những quy định được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, thì theo đó, mối quan hệ giữa họ sẽ được xem xét là quan hệ liên kết. Hậu quả của việc này là mọi giao dịch liên quan, được mô tả tại khoản 1, Điều 2 của cùng nghị định, sẽ được điều chỉnh theo quy định của Nghị định này.

Sự kết nối giữa các bên có quan hệ liên kết và các giao dịch liên kết chính là điểm mấu chốt đối với việc áp dụng hiệu quả Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Điều này không chỉ giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xử lý giao dịch liên kết mà còn thúc đẩy sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nghị định, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh lành mạnh và minh bạch.

Doanh nghiệp sẽ được xác định là có quan hệ liên kết khi thực hiện hành động bảo lãnh hoặc cung cấp vốn cho một doanh nghiệp khác, bất kỳ hình thức nào đó (bao gồm cả việc vay từ bên thứ ba với sự đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự). Điều này được quy định theo các điều kiện chi tiết như sau:

- Khoản vốn vay phải ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu trong doanh nghiệp đi vay.

- Khoản vốn vay này phải chiếm tỷ lệ trên 50% so với tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.

 

3. Đối tượng người nộp thuế theo Nghị định 132 về giao dịch liên kết

Dựa trên các quy định chi tiết tại Điều 2 và Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được xác định là đối tượng nộp thuế thuộc diện có liên quan đến giao dịch liên kết trong các tình huống sau, theo quy định cụ thể của Nghị định:

- Khi một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào doanh nghiệp kia. Điều này có thể bao gồm quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến quản lý chiến lược, quyết định chiến lược kinh doanh, hoặc thậm chí là quyền lợi cổ đông lớn.

- Các bên liên kết, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác. Điều này đặt ra một môi trường quan hệ chặt chẽ, nơi mà các doanh nghiệp có sự liên kết chặt chẽ về quản lý và quyết định chiến lược, đồng thời chia sẻ trách nhiệm về các quyết định quan trọng.

* Theo quy định chi tiết, các quan hệ liên kết như đã nêu trên được cụ thể hóa như sau:

- Một doanh nghiệp sẽ được coi là có quan hệ liên kết nếu nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đối tác.

- Đồng thời, cả hai doanh nghiệp đều sở hữu ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu, và nếu có một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp, quan hệ liên kết vẫn được xác định.

- Nếu một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu, và đồng thời nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp đối tác, thì quan hệ liên kết sẽ được xác định.

- Một doanh nghiệp thực hiện bảo lãnh hoặc cung cấp vốn cho một doanh nghiệp khác dưới mọi hình thức, bao gồm cả vay từ bên thứ ba với sự đảm bảo từ nguồn tài chính của đối tác, với điều kiện là khoản vốn vay phải ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đó.

- Một doanh nghiệp được xác định là đảm nhận thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác theo các điều kiện chi tiết như sau: Số lượng thành viên mà doanh nghiệp đầu tiên chỉ định phải chiếm trên 50% tổng số thành viên trong ban lãnh đạo hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc ít nhất một thành viên được doanh nghiệp đầu tiên chỉ định phải có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai.

- Trong trường hợp hai doanh nghiệp có số lượng thành viên trong ban lãnh đạo chiếm trên 50% hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh, và tất cả đều được chỉ định bởi một bên thứ ba.

- Hai doanh nghiệp được xem xét là có quan hệ liên kết nếu chúng cùng chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh từ các cá nhân thuộc vào mối quan hệ gia đình một cách chi tiết như sau: vợ chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

- Hai đơn vị kinh doanh nối kết qua trụ sở chính hoặc cùng chia sẻ cơ sở thường trú, đồng thời có thể là địa điểm thường trú của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài.

- Các doanh nghiệp dưới sự ảnh hưởng của một cá nhân thông qua việc góp vốn trực tiếp hoặc tham gia quản lý và điều hành.

- Các tình huống đặc biệt khác, trong đó doanh nghiệp thực sự chịu sự kiểm soát, điều hành và có quyền đưa ra quyết định quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đối tác.

- Doanh nghiệp thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng vốn góp chiếm ít nhất 25% tổng vốn góp của chủ sở hữu trong kỳ tính thuế, cũng như vay hoặc cho vay với mức ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu vào thời điểm giao dịch, đặc biệt khi giao dịch liên quan đến cá nhân có vai trò quản lý hoặc kiểm soát doanh nghiệp, hoặc liên quan đến cá nhân trong các mối quan hệ được quy định tại điểm g, khoản 2 của Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP.

Ngoài ra, có thể tham khảo: Các doanh nghiệp phải lập báo cáo chuyển giá (Giao dịch liên kết). Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.