1. Chia tài sản chung khi không đăng ký kết hôn ?

Thưa Luật sư! Sau khi ly hôn người vợ thứ nhất, anh trai tôi gặp chị (lúc đó chồng chị đã mất và có 3 đứa con riêng) thương chị hoàn cảnh anh trai tôi đưa chị cùng 3 đứa con về sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn trong ngôi nhà anh xây trên mảnh đất bố mẹ để lại.
Hiện tại anh chị có 1 đứa con chung, thời gian sống chung chị có bỏ tiền ra sửa ngôi nhà của anh tôi, sau nhiều lần mâu thuẫn do chị lừa gạt anh tôi lấy tài sản để lo cho 3 đứa con riêng nên anh đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ từ tháng 11/2009, anh tôi có làm đơn gửi tòa án giải quyết giúp, nhưng chị không ký đơn và đòi chia căn nhà mà anh tôi xây trước khi đưa chị về ở chung, đất và nhà là của bố mẹ tôi để lại ( chị đã lừa gạt anh tôi để ghi tên chị vào sổ bìa đỏ và lấy lý do đó để đòi chia tài sản).
Thưa Luật sư! xin Luật sư tư vấn giúp trong trường hợp anh tôi thì sẽ giải quyết theo cách nào? Vì anh tôi gửi đơn đã 4 năm mà tòa án không đưa ra được cách giải quyết nào ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Do bạn không cung cấp thông tin anh chị bạn sống chung từ năm nào cho nên có thể chia ra 2 trường hợp:

Trường hợp 1:

Nếu anh chị bạn và người thứ nhất ly hôn sau ngày 03/1/1987 hoặc anh bạn và người vợ hai sống chung sau ngày 03/1/1987 mà không có đăng ký kết hôn thì không được coi là hôn nhân thực tế theo quy định trên. Khi đó, anh bạn và người vợ hai không có quan hệ vợ chồng.

Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý."

Như vậy việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý nếu được đăng ký theo quy định. Việc anh chị bạn chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận nên việc giải quyết hậu quả về tài sản và quyền nuôi con khi nam nữ sống chung được quy định tại điều 14 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con."

Theo điều 16 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Do giữa anh chị bạn không có quan hệ vợ chồng nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quan hệ tài sản sẽ được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Theo quy định tại điều 207 và 219 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 207. Sở hữu chung

Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.

Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung."

"Điều 219. Chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung

1. Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thoả thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia.

2. Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán."

Vì chị vợ hai của anh bạn đã đứng tên sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và anh bạn cũng đứng tên trên đó nên chị đó có quyền yêu cầu chia tài sản này vì đây là tài sản thuộc sở hữu chung. Nếu như anh bạn có căn cứ chứng minh được rằng việc ghi tên chị này vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do lừa dối thì anh bạn có thể đòi lại toàn bộ quyền sử dung đất đó.

Bạn có thể tham khảo bào viết sau về vấn đề này: Đất đã sang tên rồi có đòi lại được không ?

Còn đối với công sức đóng góp vào việc sửa sang ngôi nhà của vợ hai anh bạn, trong cả hai trường hợp đều có thể chia.

Trường hợp 2:

Nếu anh bạn và người vợ cả ly hôn trước ngày 03/1/1987 và anh bạn và vợ hai sống chung từ trước ngày 03/1/1987 thì quan hệ hôn nhân này được công nhận. Toàn bộ tài sản hình thành từ khi sống chung được coi là tài sản chung của vợ chồng cho dù chỉ một bên đứng tên, trừ tài sản riêng của mỗi bên (phải chứng minh được là tài sản riêng mới được coi là tài sản riêng).

Theo điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Đối với quyền sử dụng đất thì do vợ hai của anh bạn đã cùng đứng tên trên sổ đỏ cho nên tài sản này được chia vì là tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân.

Việc chia tài sản khi ly hôn được giải quyết theo điều 59 Luật HN&GĐ 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, việc phân chia tài sản vợ chồng sẽ do thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ do Tòa án giải quyết.

Việc anh bạn đã nộp đơn 4 năm mà tòa án không đưa ra phương án giải quyết nào có thể là đơn của anh bạn không được tòa án thụ lý giải quyết. Vì vậy anh bạn cần xác định lại quan hệ hôn nhân và quan hệ tài sản thì tòa án mới có thể thụ lý được.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người thờ cúng tổ tiên có được pháp luật ưu ái khi chia tài sản thừa kế không ?

2. Ly hôn thì chia tài sản chung sau ly hôn thế nào ?

Chào luật sư, Em muốn hỏi chi phí cần thiết khi ly hôn thuận tình. A/c tư vấn giúp e được không ạ ? E cảm ơn!

Trả lời:

Điều 55. Thuận tình ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình 2014)

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Căn cứ theo quy định trên, trong trường hợp các bên đều thuận tình muốn ly hôn thì sẽ giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn.

Chào luật sư, ba mẹ tôi sinh ra một đứa con gái là tôi nhưng đã ly hôn từ khi tôi được 3 tháng tuổi.lúc ra tòa thì mẹ là người nuôi tôi nhưng được 5 tháng thì mẹ đưa tôi về gửi cho ông bà ngoại nuôi và bây giờ tôi đã 14 tuổi . ba mẹ tôi đã tìm hạnh phúc mới ,ba tôi đã có 3 đứa con,mẹ tôi thì có 1 đứa.vậy luật sư cho tôi hỏi tôi có được hưởng tài sản từ ba và mẹ không?

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bố mẹ bạn đã ly hôn, và thời điểm ly hôn cách đây là lâu. Tuy nhiên khi bố mẹ bạn ly hôn thì nếu có thỏa thuận chia tài sản chung thì Tòa sẽ công nhận thỏa thuận đó của bố mẹ bạn, trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc không thỏa thỏa thuận được thì Tòa án sẽ chia theo quy định của pháp luật. Do đó sau khi chia tài sản trên sẽ thuộc về bố, mẹ bạn và bạn chỉ được hưởng tài sản của bố mẹ bạn chia được bố mẹ bạn tặng cho, hoặc được đặt ra khi chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản do người chết để lại.

Chào luật sư, Cho em hỏi nhé: Em gái tôi lấy chồng được hơn 1 năm và có 1 đứa con trai được hơn 5 tháng. Nhưng do vợ chồng không ở được với nhau. Em gái em đi, nhưng gia đình chồng không cho bế con đi. Bây giờ em gái nộp đơn ly hôn. Trong trường hợp này giải quyết thế nào? mong Luật sư tư vấn giúp

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ theo quy định trên, trường hợp một bên muốn ly hôn mà phía bên kia không đồng ý thì sẽ nộp đơn theo thủ tục ly hôn đơn phương.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Nếu hòa giải không thành Tòa án sẽ tiến hành giải quyết ly hôn khi có đủ các căn cứ để tiến hành ly hôn.

Về quyền nuôi con Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ theo quy định trên, đối với trường hợp con duới 36 tháng tuổi sẽ giao trực tiếp cho người mẹ nuôi trừ 2 trường hợp sau:

-Các bên có thỏa thuận khác

- Người mẹ không đủ điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Hồ sơ xin ly hôn đơn phương cần chuẩn bị như sau:

- Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện (Theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- CMND và hộ khẩu;

- Giấy khai sinh các con;

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm…

Các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương

- Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;

- Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong thời hạn khoảng 7-15 ngày, Tòa án kiểm tra đơn và nếu đầy đủ thì Tòa thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

- Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

- Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật.

- Bước 5: Trong trường hợp, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, người yêu cầu ly hôn có quyền kháng cáo để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Thời gian tòa án giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn:

Ly hôn đơn phương cấp sơ thẩm: khoảng từ 4 đến 6 tháng (nếu có tranh chấp tài sản, phức tạp thì có thể kéo dài hơn).

Ly hôn đơn phương cấp phúc thẩm: khoảng từ 3 đến 4 tháng (nếu có kháng cáo).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

3. Ly hôn và tranh chấp tài sản chung của vợ chồng?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Lời đầu tiên cho phép em được gửi lời chúc sức khỏe tới toàn bộ anh, chị luật sư công tác tại Công ty Luật Minh Khuê. Em tên L, hiện tại em đang là sinh viên năm cuối của Học viện Quản Lý Giáo Dục. Qua tìm hiểu thông tin trên mạng, báo, đài,.. em có biết được Công ty Luật Minh Khuê là một nơi uy tín, trách nhiệm và cũng là một trong những công ty Luật hàng đầu tại Việt Nam. Hiện tại, gia đình em đang xảy ra một số biến cố rất lớn và có liên quan đến Pháp Luật, em mong anh, chị tư vấn, trợ giúp để em có thể hiểu rõ hơn về Luật.
Bố mẹ em lấy nhau từ đầu năm 1993 và có với nhau 2 người con là em năm nay 21 tuổi và 1 em gái năm nay 20 tuổi. Trong hơn 20 năm chung sống với nhau bố mẹ em luôn cãi vã. Bố em hay đánh đập và chửi mắng mẹ em, vì thương 2 đứa con còn nhỏ, lại sợ sự đàm tiếu của dư luận, xã hội, nên mẹ em vẫn nhẫn nhịn để 2 đứa con không mang tiếng "bố mẹ ly hôn". 3 tháng trước, bố em vô duyên vô cớ về nhà cầm gậy đánh mẹ em đến tím người, trong khi em và em gái đang học trên Hà Nội. Có hàng xóm và trưởng thôn tới can ngăn và chứng kiến. Mọi chi phí cho chị em em ăn học đều do một mình mẹ em gánh vác, bố em không có trách nhiệm gì, còn gia đình bên nội không những không giúp đỡ mà còn nói những lời không hay. Sự việc trên xảy ra quá nhiều lần, em không muốn mẹ em phải chịu khổ nhục, nhẫn nhịn hy sinh vì chị em em, mà em muốn mẹ em được sống hạnh phúc, một cuộc sống bình thản, không lo âu hay suy nghĩ quá nhiều. Vì vậy em đã về nhà, viết đơn ly hôn cho bố mẹ ký, một việc làm mà không một đứa con nào trên đời này mong muốn, em đã khóc rất nhiều.Sau khi đưa đơn ly hôn lên tòa thì Bà Nội, em gái Bố và em trai Bố ( đều là những người có chức có quyền) gửi đơn lên tòa kiện mẹ em và đòi mẹ em ra đi tay trắng mà không được bất cứ thứ gì. Họ nói những điều vu khống nhằm xúc phạm danh dự và nhân phẩm của mẹ em, trong khi đó mẹ em là một người phụ nữ truyền thống và có phần bảo thủ. Nội dung kiện của họ đại ý rằng mẹ em đút lót để làm sổ đỏ. Em được biết mảnh đất hiện tại nhà em đang ở trước kia Ông Bà Nội em sinh sống cùng với nhau từ trước những năm 1992. Đến đầu năm 1993 bố mẹ em cưới nhau nên Ông Bà xuống ở với người con thứ ba, trước khi đi ông bà có dặn: xuống vun vén cho đứa em, còn nhà này cho chúng mày làm ăn. Nhưng không có giấy chuyển nhượng mà chỉ nói bằng miệng. Bố mẹ em sinh sống tại mảnh đất này đến năm 2011 thì chính quyền xã xuống đo đạc đất và cấp sổ đỏ đứng tên cả bố và mẹ em. Bố em là người đi lấy sổ đỏ và ký tên, nhưng giờ Tòa hỏi bố em lại bảo đó không phải chữ ký bố em. Còn bên Nội thì nhất quyết muốn kiện mẹ em và nói rằng sổ đỏ là bất hợp pháp.
Vậy em xin hỏi các anh, chị dựa vào tình tiết trên thì: cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết như thế nào?Trong trường hợp cả 2 chị em em đều qua 18 tuổi, chúng em có thể đòi được những quyền lợi gì cho mẹ em và bản thân chúng em không? vì hiện tại mẹ em không có nơi ở ổn định, bố em đuổi mẹ em ra khỏi nhà, và còn đe dọa nếu về nhà sẽ giết.
Rất mong anh, chị hồi âm và giải đáp cho em được rõ ràng! Cuôí cùng em xin kính chúc anh, chị trong Công ty Luật Minh Khuê có một ngày làm việc vui vẻ và sức khỏe thật tốt, thành công trong sự nghiệp và đem lại công bằng cho xã hội. Mong hồi âm của các anh, chị luật sư.
Em xin chân thành cảm ơn!

Ly hôn và sự phân chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn thế nào ?

Luật sư tư vấn Hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, việc mẹ bạn bị bố đánh đập, xua đuổi khỏi nhà.

Nội dung sự việc bạn cung cấp răng "Bố em hay đánh đập và chửi mắng mẹ em, 3 tháng trước, bố em vô duyên vô cớ về nhà cầm gậy đánh mẹ em đến tím người có hàng xóm và trưởng thôn tới can ngăn và chứng kiến,hiện tại mẹ em không có nơi ở ổn định, bố em đuổi mẹ em ra khỏi nhà". Đối với hành vi này bố bạn có thể bị xử lý hành chính về hành vi của bố bạn khi nạn nhân có yêu cầu theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia định, cụ thể:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Điều 52. Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó;

b) Không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc;

c) Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục;

b) Có hành vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1, 2 và Khoản 3 Điều này.

Thứ 2, bố em vô duyên vô cớ về nhà cầm gậy đánh mẹ em đến tím người và còn đe dọa nếu về nhà sẽ giết.

Như vậy, ngoài đánh đập, bảo hành mẹ thì có những hành vi có tính nghiêm trọng hơn như dùng "gậy" đánh đến "tím người"... Và nếu những hành vi đó mà trình báo đơn lên cơ quan Công an nơi bạn thường trú và tiến hành giám định thương tật mà trên 11% hoặc dưới 11% mà gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bố bạn có thể bị khởi tố hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Theo điều văn trên, một người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là thể hiện bằng hành động như: Cử chỉ, lời nói, hay lời đe dọa với những hình thức khác nhau.. nhằm làm cho người bị đe dọa tưởng thật như mình có thể bị giết. Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lí lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

4. Ly hôn thuận tình giải quyết con chung như thế nào ?

Chào luật sư. Em muốn li hôn thuận tình. Vậy đơn li hôn cần in hay phải viết Tay. Với lí do vợ chồng em không sống cùng được với nhau vì k chung sống hoà hợp được thì viết như thế nào để toà giải quyết nhanh nhất. E có 1 bé trai 3 tháng tuổi,quyền nuôi con sẽ thuộc về mẹ.vậy trợ cấp người không trực tiếp nuôi sẽ thế nào? Và con em đăng kí hộ khẩu bên chồng nhưng bên chồng không nhập khẩu cho mẹ. Em muốn bên chồng phải tách khẩu con để nhập theo mẹ được không?

Thứ nhất: Giải quyết về vấn đề ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Một trong những căn cứ để toàn án công nhận thuận tình ly hôn là đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Thứ hai: Trợ cấp nuôi con

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thủ tục tách khẩu cho con:

Căn cứ theo Điều 27 Luật Cư trú năm 2006 sửa đổi bổ sung 2013 tách sổ hộ khẩu được quy định như sau:

“1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.”

Đối với trường hợp của con bạn nêu trên, do trước đây con bạn nhập hộ khẩu vào nhà chồng bạn, nên thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 25 Luật Cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013. Vì vậy, để thực hiện được việc tách sổ hộ khẩu cần phải có “sự đồng ý của chủ hộ”. Tuy nhiên, Khoản 1 điều 13 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 quy định: “ Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.” Theo quy định này thì nơi cư trú của con bạn sẽ là nơi con bạn thường xuyên chung sống, tức là nơi đăng ký thường trú của bạn. Trường hợp này bạn có thể đăng ký thường trú cho con bạn tại nơi cư trú mới, sau đó tiến hành xóa đăng ký thường trú tại hộ khẩu nhà chồng theo quy định tại Điều 19, Điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013.

Điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú 2006 quy định về xoá đăng ký thường trú như sau:

“1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú:

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.”

Thông tư 35/2014/TT-BCA Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú

Điều 9. Thẩm quyền đăng ký thường trú

1. Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền đăng ký thường trú tại quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Công an xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại các xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh. Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thông tin câu hỏi nêu không rõ là bạn có đăng ký thường trú tại xã thuộc huyện hay không. Nếu bạn đăng ký thường trú tại xã thì công an xã có thẩm quyền đăng ký thường trú gửi thông báo yêu cầu xóa khẩu của con bạn tới công an nơi đã cấp giấy chuyển khẩu.

Thưa luật sư, Đi ăn đám cưới của người chưa đủ tuổi kết hôn có bị vi phạm pháp luật không ?

Vi phạm pháp luật là hành vi của những người làm không đúng những quy định trong quy phạm pháp luật , gây tổn hại cho xã hội

Trong pháp luật hiện nay chưa có quy định nào về hành vi đi ăn đám cưới của những người chưa đủ tuổi kết hôn là hành vi vi phạm pháp luật cho nên với trường hợp của bạn thì bạn không phải vi phạm.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

5. Đất do bố mẹ chồng tặng cho có phải là tài sản chung không ?

Thưa luật sư Minh Khuê, tôi với chồng tôi kết hôn được 11 năm có được 2 con. Chồng tôi là con trai út. Vào tháng 4-2015 ba mẹ chồng tôi có cho chồng tôi là 17 công đất, trong giấy ghi là bên cho là ba mẹ chồng tôi, bên nhận là chồng tôi, không có tên tôi trong giấy và chồng tôi giấu không cho tôi biết là ba mẹ chồng đã cho đất như vậy.
Hiện giờ chồng tôi đòi ly hôn với tôi, vậy phần đất đó tôi có được hưởng không ?
Rất mong quý luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cám ơn.

Khi tiến hành thủ tục ly hôn có cần xác nhận của UBND xã/phường ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi : 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

- Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

- Theo Khoản 2, 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"...2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này..."

-> Theo dữ liệu bạn đưa ra thì đất bố mẹ chồng để lại và chỉ ghi tặng cho chồng bạn, bạn cần kiểm tra lại chính xác việc cho tặng này đã hoàn thành chưa ? Nếu đã hoàn thành mà chỉ có thông tin tên của chồng của bạn và hợp đồng tặng cho chỉ tặng cho riêng chồng của bạn thì có thể hiểu là bố mẹ tặng cho tài sản chỉ cho riêng chồng của bạn thôi và chồng của bạn lại không thực hiện bất kỳ thủ tục nào hoặc công việc nào để chuyển tài sản đó vào khối tài sản chung của hai vợ chồng bạn. Do đó, theo quy định của pháp luật thì sau khi ly hôn bạn sẽ không được chia phần đất đó.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn, phân chia tài sản chung và quyền nuôi con ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?