1. Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay lãi nặng ?

Kính thưa luật sư. Việc là người chị và anh rể của tôi có mượn sổ hồng của người cô 2 tôi đi vay tiền là 300 triệu đồng,khi ra công chứng thì cô 2 và dượng 2 tôi đều ra kí tên nhưng không biết gì mà chỉ biết kí,và giấy khi kí là hợp đồng sang nhượng. Thời gian sau bên cho vay đã làm thủ tục thay tên đổi chủ sổ hồng luôn. Bây giờ họ đang thưa ra tòa đòi nhà. Luật sư cho tôi hỏi:
Thứ 1 : cô và dượng 2 tôi khi đó đã trên 60 tuổi thì việc mua bán căn nhà có cần phải có con cái xác nhận hay không ?
Thứ 2: làm giấy sang nhượng nhà thì bên được sang nhượng có được phép thay tên đổi chủ căn nhà hay không ?
Thứ 3: hiện tại đã hòa giải 2 buổi tại tòa không thành,tôi có thể khởi kiện bên vay về chiếm đoạt tài sản và cho vay nặng lãi được không thưa luật sư ?
Kính mong luật sư giúp đỡ!

Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay lãi nặng ?

Luật sư tư vấn quy định về cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.1975

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về việc cô và dượng bạn có đủ điều kiện mau bán nhà không , pháp luật không quy định về việc hạn chế dộ tuổi khi giao kết hợp đồng dân sự , trường hợp căn nhà thuộc sở hữu hợp pháp của cô và dương bạn và tại thời điểm giao kết hợp đồng sang nhượng ngôi nhà thì cả hai người còn minh mẫn thì hợp đồng này hoàn toàn hợp pháp cả về chủ thể giao kết , nội dung , đối tượng và hình thức .

Thứ hai, giấy sang nhượng trên đã được công chứng thì người được nhận chuyển nhượng hoàn toàn có quyền đứng tên chủ sở hữ căn nhà .

Thứ ba, việc anh rể bạn mượn sổ hồng của cô dượng bạn để làm tài sản đảm bảo cho việc vay 300 triệu đồng là sự thỏa thuận miệng giữa 3 người , nhưng trên thực tế thì hai eben lại không làm hợp đồng vay có thế chấp mà lại làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất , các bên trong hợp đồng cũng đã ký vào và được công chứng chứng thực . Vậy số tiền 300 triệu đồng đó có được xác định la tiền vay hay không ? Nếu bên cho vay biết rằng cô và dượng bạn có kiến thức pháp luật hạn hẹp và cố ý thay đổi hình thức và nội dung hợp đồng nhằm chiếm đoạt căn nhà thì họ có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) . Mặt khác nếu bên cho vay có thỏa thuận với cô và dượng bạn về việc thay đổi từ hợp đồng vay thành hợp đồng mua , bán nhà với giá mua là 300 triệu đồng và cô , dượng bạn đồng ý ký kết với người đó về hợp đồng này thì người này sẽ không vi phạm pháp luật .

Điều 139 luật hình sự năm 1999 quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Về việc người này có phạm tội cho vay lãi nặng hay không thì với thông tin bạn cung cấp thì giữa hai bên không xác lập hợp đồng vay tài sản , không quy định về mức lãi suất nên hành vi của người này không cấu thành tội cho vay lãi nặng .

Thưa luật sư , em có vay của một người 200 triệu đồng với mức lãi suất là 10 triệu đồng trên 1 ngaỳ thì bên cho vay có thuộc trường hợp cho vay lãi nặng không ạ ? Thế nào là hành vi cho vay nặng lãi ? Mức lãi suất có thể cho vay hợp pháp hiện nay là bao nhiêu % ? Hợp đồng không ghi lãi suất nhưng thu lãi cao thì có phạm luật không ?
Cảm ơn luật sư!

=> Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về lãi suất cho vay:

“1.Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.”

Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Vậy trong trường hợp củ bạn lãi suất 1 ngày sẽ là 5% , vậy 1 tháng sẽ là 150% cao hơn 10 lần mức lãi suất 1,125% , vậy trong trường hợp này khoản vay của người cho vay đã vi phạm về lãi suất theo cả luật dân sự và hình sự , Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".

Vậy trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn tố cáo hoặc đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đến cơ quan công an cấp quận huyện nơi người đó đang cư trú để cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và truy tố người này về tội cho vay lãi nặng .

Chào luật sư Minh khuê. Tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi về những khoản tiền lấy sổ đỏ. Cách đây 9 tháng xã có gửi giấy mời lên lấy sổ đỏ và đóng thuế với số tiền 51trieu. Vì hoàn cảnh khó khăn gia đình tôi chưa lấy ngay dược. Và bây giờ gia đình tôi lên lấy thì xã bắt đóng thêm tiền nộp chậm là 16.700.000.d tổng cộng là 67.700.000.d. Vậy là lãi suất thành nặng lãi. Và xã nói do huyện ký rồi. Ra kho bạc nhà nuớc dóng . Vậy xin hỏi luật sư số tiền tôi phải đóng có đúng luật của nhà nuớc hay không? Giá đình tôi xin cảm ơn luật sư tư vấn.

Trong trường hợp của bạn , việc bạn chậm nộp lệ phí trước bạ khi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ là không đúng với quy định của pháp luật ; nên ngoài số tiền thuế phải nộp thì bạn còn phải nộp thêm 1 khoản nữa đó là tiền phạt chậm nộp thuế .

Theo quy định của pháp luật thì thời hạn nộp lệ phí trước bạ là 30 ngày (ba mươi ngày) kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí trước bạ. Hết thời hạn quy định thì sẽ phải trả tiền phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế có quy định mức phạt chậm nộp như sau:

“4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 106 như sau:

“1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.”

Theo đó:

Số tiền chậm nộp = 0,05% x số ngày chậm nộp x số tiền lệ phí trước bạ phải nộp

Cách đây 9 tháng bạn được nhận thông báo của UBND cấp xã do vậy bạn có nghĩa vụ nộp thuế trong vòng 30 ngày kể từ ngày nộp thuế , vậy thời gian bạn chậm nộp là khoảng 08 tháng , giải sử mỗi tháng có 30 ngày thì số tiền phạt chậm nộp bạn phải nộp là khoảng hơn 6 triệu đồng chứ không phải là 16 triệu 700 ngàn đồng . Bạn co thể yêu cầu cơ quan thuế giải thích và đưa ra căn cứ về việc này .

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

2. Như thế nào là cho vay lãi nặng ?

Kính chào luật sư, xin hỏi: Tôi có vay số tiền là 30 triệu, với lãi suất mỗi tháng góp 03 triệu, tuy nhiên khi nhận tôi chỉ nhận được 27 triệu và phải trã lãi trước một tháng tức là 03 triệu. Tôi góp được 06 tháng thì không có khả năng góp, chủ nợ đòi tiền gốc và 03 tháng không góp là 45 triệu. Vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này có được coi là cho vay nặng lãi không ạ?
Cảm ơn luật sư!

Như thế nào là cho vay lãi nặng ?

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Sau khi nghiên cứu câu hỏi, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định tại điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Trường hợp của bạn là bạn xác lập giao dịch vay tiền với số tiền là 30 triệu và tiền lãi trả hàng tháng là 3 triệu đồng. Tức là số lãi suất hàng tháng bạn phải trả tương đương với 10% số tiền vay/ tháng và 120% số tiền vay/ năm. Mà theo quy định trên, các bên trong giao dịch vay tiền có thể thỏa thuận về mức lãi suất nhưng mức lãi suất không được vượt quá 20% số tiền vay/ năm. Như vậy, trường hợp này mức lãi suất 120% số tiền vay/ năm là vi phạm theo quy định của pháp luật dân sự.

Bên cạnh đó, tại Điều 201 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định này, với mức lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ Luật dân sự, và thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng là đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Mà trong trường hợp này của bạn, mức lãi suất 120% của số tiền vay/ năm là cao gấp 6 lần, nên thuộc một trong những dấu hiệu của Tội cho vay lãi nặng.

Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.1975 để được giải đáp.

Trân trọng./.

3. Cho vay lãi nặng là thế nào?

Thưa luật sư Cho em hỏi là khoảng tháng 9 năm 2014 em có mua 1 chiếc xe trả góp giá 18 triệu góp 12 tháng mà em có đưa trước cho công ty là 4 triệu mỗi tháng em phải góp cho công ty là 1770000 mà trong đó có một tháng em góp không đúng hẹn công ty bắt buộc em phải góp nhưng nhà em thì lại không có khả năng nên công ty đã phạt em 1 ngày 250 ngàn.
Đến nay em góp cho công ty chỉ còn 1 tháng cuối vẫn đúng trong hợp đồng là 12 tháng nhưng công ty lại bắt em đóng số tiền phạt là 4tr thì mới trả lại giấy xe cho em vậy cho em hỏi nếu như theo luật thì công ty đó có vi phạm vào tội cho vay nặng lãi hay không và em có quyền thưa công ty đó hay không?

Kết quả hình ảnh cho cho vay nang lai

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.1975

Luật sư tư vấn:

Thưa Bạn, Theo quy định của Bộ luật hình sự về Tôi cho vay lãi nặng như sau:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.:"

Như vậy, Trong trường hợp của Bạn nếu Bạn có căn cứ chứng minh được các yếu tố sau:

- Một là, Người đại diện của Công ty đó ký hợp đồng trả góp với Bạn hoặc sau khi ký đã thỏa thuận thêm về số tiền lãi cao hơn từ 10 lần mức lãi cho vay theo quy định của nhà nước, do Ngân hàng Nhà nước công bố thời điểm 2014 là 9%/năm. Theo điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về lãi suất:

"Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, lãi suất cho vay tại thời điểm hiện tại là không quá 13,5%/năm.

- Hai là, Việc cho vay với lãi suất như trên được sự chấp thuận của các thành viên hoặc cổ đông của công ty cho vay;

- Ba là, Hoạt động cho vay lãi nặng như thế là thường xuyên, tức là không chỉ cho Bạn vay mà cho nhiều người khác vay như thế và những người vay đó có thể làm chứng cho việc này.

Thì hành vi Cho vay Lãi như thế có dấu hiệu của Tội cho vay lãi nặng như đã viện dẫn ở trên, do Người đại diện và các thành viên hoặc cổ đông của công ty đó thực hiện, bởi nó đã thỏa mãn các yếu tố định tội cơ bản của tội này, đó là: Cho vay với mức lãi nặng là hơn từ 10 lần mức lãi vay do Nhà nước quy định; Chuyên có tính bóc lột thể hiện ở viêc Nhóm người này lợi dụng danh nghĩa công ty thường xuyên cho nhiều người vay và dựa vào các điều kiện khó khăn của họ, tuy không cưỡng đoạt những chèn ép họ để bóc lột tài sản của họ.

Và vì thế, Nếu bạn có đủ các căn cứ trên thì Bạn có quyền Tố giác hành vi này đến cơ quan công an cấp quận/huyện nơi thực hiện việc cho vay, về hành vi trên.

Tuy nhiên, Nếu việc Người của Công ty có hành vi dùng vũ lực, đe doạn dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác ép buộc Bạn phải trả tiền phạt 250.000 nghìn đồng/ngày khiến Bạn phải miễn cưỡng giao tiền thì Bạn có thể tố giác họ về hành vi cưỡng đoạt tài sản được quy định tại điều 135 Bộ luật hình sự như sau:

"Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

- Bạn cần lưu ý ràng phải có chứng cứ thì mới có cơ sở để thực hiện quyền tố giác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Ngân hàng cho vay lãi nặng thì xử lý thế nào ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê! E có sự việc mong nhận được sự tư vấn như sau: Trước đây vì làm ăn khó khăn nên ba em có vay của Công ty Tài Chính TNHH M ngân hàng Việt Nam TV với số tiền là 21.000.000đ, lãi suất 5%/ tháng. Em xin hỏi với mức lãi suất trên, Ngân hàng có cho vay nặng lãi không? Nếu có ba em có thể khởi kiện không? Thủ tục gia hạn nợ với Ngân hàng được tiến hành như thế nào?
Mong sớm nhận được sự tư vấn từ Luật sư!

Ngân hàng cho vay lãi nặng thì xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn quy định về cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.1975

Trả lời:

Trong Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định duy nhất một điều về lãi suất một cách trực tiếp:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.

Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, do bạn không nói rõ thời điểm ba bạn vay tiền của Công ty M từ thời điểm nào nên chúng tôi xin đưa ra nhận định dựa vào những quy định về lãi suất cơ bản hiện hành như sau: tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999 thì để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng thì công ty M phải cho vay với mức lãi suất gấp 10 lần trở lên so với mức lãi suất mà pháp luật quy định. Như vậy, mức lãi suất phải từ 11,25%/tháng thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Theo đó, công ty M cho bố bạn vay với mức lãi suất là 5%/tháng là chưa đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp, thì lúc này Tòa án chỉ giải quyết dựa theo mức lãi suất mà pháp luật dân sự cho phép (1,125%/tháng)

Về việc gia hạn nợ vay, Gia hạn nợ vay là việc tổ chức tín dụng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian ngoài thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Điều 13 Quyết định Số 1627/2001/QĐ-NHNN quy định:

Điều 13. Trả nợ gốc và lãi vốn vay

1. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về việc trả nợ gốc và lãi vốn vay như sau:

a) Các kỳ hạn trả nợ gốc;

b) Các kỳ hạn trả lãi vốn vay cùng với kỳ hạn trả nợ gốc hoặc theo kỳ hạn riêng;

c) Đồng tiền trả nợ và việc bảo toàn giá trị nợ gốc bằng các hình thức thích hợp, phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Đối với khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng phân loại toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng vay có nợ quá hạn vào tài khoản cho vay thích hợp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

3. Tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thoả thuận về điều kiện, số lãi vốn vay, phí phải trả trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn.

4. Trả nợ vay bằng ngoại tệ: Khoản cho vay bằng ngoại tệ nào thì phải trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ đó; trường hợp trả nợ bằng ngoại tệ khác hoặc Đồng Việt Nam, thì thực hiện theo thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phù hợp với quy định về quản lý ngoại hối của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam".


"Điều 22. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

1. Các tổ chức tín dụng tự quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, trên cơ sở khả năng tài chính của mình và kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay:

a) Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo, thì tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay.

b) Khách hàng không có khả năng trả hết nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay đúng thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả nợ trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn cho vay, thì tổ chức tín dụng xem xét cho gia hạn nợ với thời hạn phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng.

Toàn bộ số dư nợ vay gốc của khách hàng có khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được phân loại vào các nhóm nợ thích hợp theo quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2. Các tổ chức tín dụng phải ban hành quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; việc phân cấp, uỷ quyền cho các chi nhánh của mình quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ phải bảo đảm Hội sở chính nắm được kịp thời, đầy đủ và chính xác các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong toàn hệ thống. Các tổ chức tín dụng phải gửi quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước ngay sau khi ban hành.

3. Đối với các khoản nợ vay được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, các tổ chức tín dụng phải báo cáo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với tổ chức tín dụng.”.

Về việc gia hạn nợ, nếu xét điều kiện cũng như lý do xin gia hạn nợ của bạn là chính đáng thì Ngân hàng sẽ xem xét cho gia hạn nợ theo Điều 22 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (Xem thêm: Quyết định Số 783/2005/QĐ-NHNN), nhưng nếu bạn không đủ điều kiện được Ngân hàng gia hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tín dụng sẽ chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.1975. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

5. Thế nào là cho vay lãi nặng và tiền án ?

Kính gửi cty Luật Minh Khuê, Tôi có trường hợp của tôi cụ thể như thế này,rất mong được sự tư vấn của luật sư: Vào tầm tháng 10.2012 tôi có vay của 1 chị bạn 129tr đc nhận làm 3 lần và có đồng ý trả lãi 4000d/tr/ngay và sau đó tôi trả lãi đầy đủ được tầm 6 tháng thì tôi không có khả năng trả lãi đầy đủ nữa mà tôi trả theo kiểu có bnh trả bấy nhiêu,khi thì 1triệu, vài chục triêu khi thì vài triệu.

Đến tháng 3.2015 chị ta có gặp tôi và nói stien tôi đã trả phần lớn trừ vào lãi,đại thể tổng số tiền tôi đã trả là khoảng 135tr mà đến thời điểm đó chị ta có ép tôi viết giấy nhận nợ st 160tr bao gồm gốc và lãi gộp lãi. Tôi trả chị ta có những gto còn lưu có tờ không lưu (vì có lần trả tiền mặt,có lần trả vào tkhoan của chị ta). Đến cuối năm 2015 chị ta có thuê luật sư và đòi nợ tôi,tôi cũng có nói tôi sẽ trả thêm nhưng đề nghị chị ta bớt (vì tôi nể là mqh lâu năm nên thực sự cũng k nề hà thêm 1 vài chục triệu) nhưng chị ta chỉ đồng ý bơt 20triệu,quả thực đến lúc này tôi không có khả năng trả từng đó tiền,trong khi đó tính ra tiền gốc chị ta đã lấy về đc bao lâu rồi và st tôi trả cũng đã quá số gốc nên tôi không đồng ý. Và hiện tại chị ta làm đơn kiện tôi ra tòa. Bản thân tôi nghĩ tiền tôi cũng không hề không trả mà do hoàn cảnh nên thực sự lực bất tòng tâm.

Vậy rất mong Luật Minh Khuê cho tôi hỏi,nếu ra tòa thì chị ta có bị tội cho vay nặng lãi không? Tôi sẽ bị kết tội gì? Và nếu bị kết tội ở vụ kiện này tôi có bị coi là có tiền án không? Thêm nữa, cho tôi hỏi với trường hợp của tôi nếu tôi nhờ đến sự bảo vệ của Luật Minh Khuê tại tòa thì chi phí như thế nào? Bản thân tôi qua những tình huống đã đọc trên web của Minh Khuê cũng hiểu ra nhiều điều nên mạn phép hỏi bên công ty trường hợp của mình, nếu mọi thứ hợp lý cho tôi thì tôi cũng rất muốn mình sẽ là khách hàng của công ty. Rất mong câu trả lời của Minh Khuê.

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Thế nào là cho vay lãi nặng và tiền án ?

Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.1975

Trả lời:

Theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005 :

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.".

Hiện tại lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố là 9%/năm tức là lãi suất các bên thỏa thuận cho vay không được vượt quá 150% X 9% = 13,5%/năm, tức là không quá 1,125%/tháng.

Bạn cho vay với lãi suất 4.000 đồng/ triệu/ ngày tức là bạn cho vay với lãi suất 120.000/triệu/tháng. Như vậy, lãi suất ở đây là 12%/ tháng, 144%/năm, vượt quá lãi suất tối đa mà ngân hàng cho phép là 10,6 lần.

Hành vi của bạn có thể cấu thành tội phạm tội cho vay nặng lãi theo điều 163 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 , cụ thể :

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Mặt khác, việc bạn chỉ bị xử phạt khi vay quá hạn thanh toán thì sẽ phải bồi thường theo quy định hoặc theo thỏa thuận của 2 bên chứ không bị xử tiền án.

Trách nhiệm này theo hợp đồng 2 bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật căn cứ khoản 5 điều 474 Bộ luật dân sự 2005 :

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Vậy bạn có thể trình báo hành vi này lên cơ quan công an để xử lý theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Có phạm tội cho vay lãi nặng ?

Thưa luật sư, Em có vay của ngân hàng VP bank 40 triệu, lãi suất 45%/ năm. Mấy tháng gần đây em không có đóng tiền lãi hàng tháng. Cho em hỏi: lãi suất em vay như vậy có thuộc vào cho vay nặng lãi chưa ạ? Em không đóng tiền nữa có bị truy cứu, hay bồi thường gì không ạ ?
Mong luật sư giúp e ạ, Em cảm ơn!

Có phạm tội cho vay lãi nặng ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1975

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:

Theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005 :

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.".

Hiện nay lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố là 9%/ năm, tức là lãi suất cho vay không được vượt quá 13,5 %/năm.

Theo khoản 1 điều 163 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 :

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Ngân hàng VP bank cho bạn vay 40 triệu, lãi suất 45%/ năm gấp 3,33 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định ( 13.5%/năm ). Tuy nhiên, với mức lãi suất gấp 3,33 < 10 lần thì việc cho vay này của ngân hàng chưa cấu thành tội cho vay lãi.

Hành vi này chỉ bị xử phạt hành chính theo điểm d, khoản 3, điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình , cụ thể: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.

Bạn không đóng tiền nữa thì sẽ phải bồi thường theo quy định hoặc theo thỏa thuận của 2 bên.

Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Bạn có nghĩa vụ trả tiền lãi theo tháng và những tháng gần đây bạn không đóng tiền lãi ( không thực hiện nghĩa vụ ) do đó bạn phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền ( Ngân hàng VP Bank ). Trách nhiệm này theo hợp đồng 2 bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật căn cứ khoản 5 điều 474 Bộ luật dân sự 2005 :

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.1975.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê