1. Chồng ngoại tình đòi ly hôn, vợ không đồng ý ly hôn có được không ?

Thưa luật sư, em chào luật sư, mong luật sư giúp em trả lời những thắc mắc: Vợ chồng em cưới nhau 4 năm và có một cháu hiện đang 4 tuổi. Cuộc sống trong gia đình yên ổn thì chồng em muốn ly hôn vì có người phụ nữ khác bên ngoài. Em muốn hỏi em không đồng ý ly hôn có được không ? Và danh nghĩa là vợ chính thức thì em nên làm gì trường hợp này ? Mong được giúp em chân thành cảm ơn.

Chồng ngoại tình đòi ly hôn, vợ không đồng ý ly hôn có được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Và trên tinh thần áp dụng nội dung theo Điều 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP quy định như sau:

"...8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

b. Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 thì: "trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn". Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

b.1. Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

b.2. Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

b.3. Khi Toà án giải quyết cho ly hôn với người tuyên bố mất tích thì cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo đúng quy định tại Điều 89 Bộ luật dân sự...."

Các căn cứ để ly hôn khi chồng ngoại tình có thể thu thập bao gồm:

- Các hình ảnh, clip chứng minh việc ngoại tình;

- Biên bản hòa giải không thành của UBND về việc vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng;

- Biên bản hòa giải gia đình;

...

Như vậy, nếu như chồng bạn không còn chung thuỷ với bạn, đã có người phụ nữ khác ở bên ngoài và hành vi này của chồng bạn đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình và đời sống hôn nhân của vợ chồng bạn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì chồng bạn hoàn toàn có quyền tự mình làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và giải quyết.

Việc bạn không đồng ý để vợ chồng ly hôn bạn vẫn có cách, trong trường hợp này buộc bạn phải chứng mình chồng mình không có hành vi ngoại tình hoặc chồng mình có hành vi ngoại tình nhưng đời sống hôn nhân của vợ chồng bạn vẫn rất hạnh phúc, hai vợ chồng vẫn rất quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn xử lý theo pháp luật khi vợ ngoại tình ?

Thưa luật sư, tôi có một vấn đề mong luật sư tư vấn giúp như sau: Vợ tôi tự ý bỏ về nhà mẹ ruột từ ngày 27 tháng 5 năm 2014. Cuối tháng 7 cùng năm cô ấy quen và sống lén lút với người đàn ông khác hàng đêm từ 20 giờ. Chúng tôi đã có 1 bé trai. Như vậy cô ấy có vi phạm luật hôn nhân ko?

Trong khoảng thời gian đó tôi có vài lần muốn hòa giải dù biết vợ mình như vậy nhưng cô ấy không đồng ý và bây giờ biết không thể giấu được nữa nên cô ấy đòi ly hôn. Vậy tôi muốn đem con về nuôi được không?

Tôi có thể thưa kiện cán bộ- người đã lén lút chung sống với vợ tôi mặc dù biết vợ tôi là người đã có gia đình không?

Trong trường hợp tôi không đồng ý ly hôn thì tòa sẽ giải quyết như thế nào? Và thời gian kể từ khi nộp đơn đến khi giải quyết xong là bao lâu?

Xin cảm ơn!

Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng ngoại tình ?

Tư vấn xử lý theo pháp luật khi vợ ngoại tình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp vợ bạn lén lút chung sống với người đàn ông khác có vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

Trường hợp hai vợ chồng bạn thuận tình li hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp bạn không đồng ý li hôn, Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 56 để giải quyết.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn được quy định tại Điều 81.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng ngoại tình ?

Thưa luật sư, Hiện tôi đang rất cần tư vấn về việc gia đình như sau: Chồng tôi đã ngoại tình nên tôi muốn ly hôn. Theo luật pháp, tôi cần làm gì để khi ly hôn được lợi hơn khi chia tài sản?

- Có cần thu thập bằng chứng ngoại tình cho tòa không?

- Các con tôi đã trên 18 tuổi, có được phân chia tài sản không ah?

- Bà nội các cháu ( mẹ chồng tôi) trước đây có cho chúng tôi 500 triệu đồng, vì chông tôi ngoại tình nên bà muốn lấy lại để cho các cháu ( con của tôi). Như vậy có được không?

Luật sư tư vấn:

Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, nếu anh chị không thỏa thuận được vấn đề chia tài sản thì chị muốn được lợi hơn trong chia tài sản thì ngoài các yếu tố ở điểm a, b, c khoản 2 điều 59 ở trên thì chị có thể chứng minh lỗi của chồng chị vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng để có thể được xem xét ưu tiên khi chia tài sản chung.

Tiếp đó, theo khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự thì khi đơn phương ly hôn, chị có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của chị, nghĩa là chị phải thu thập bằng chứng cho việc ngoại tình của chồng chị.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2014 quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:

1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp....

4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

Các con chị đã trên 18 tuổi nhưng đây là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nên các con chị không được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Việc mẹ chồng bạn cho vợ chồng bạn 500 triệu thì đó đã là tài sản chung của vợ chồng chị và không có quyền đòi lại. Bà chỉ được đòi lại khi có sự đồng ý của cả hai vợ chồng chị.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Không có bằng chứng ngoại tình có ly hôn đơn phương được không ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Ngoại tình với người chưa đăng ký kết hôn có phạm tội gì không ?

Chào luật sư, e đang là sinh viên năm 2 tại trường ở tp.hcm, vừa qua e có ngoại tình với vợ của 1 người mà 2 người có làm lễ kết hôn và có con nhưng chưa có giấy đăng kí kết hôn.

Nội dung câu hỏi:

Em ngoại tình bị ba mẹ cô ấy phát hiện và đòi gởi giấy tố cáo em về tội phá huỷ hạnh phúc gia đình người khác. Gia đình cô ấy cũng có tiếng nên không muốn làm lớn chuyện, và chỉ nói em là có ai hỏi thì phải khai là không có chuyện gì và e cũng chấp nhận. Vậy thưa luật sư... Trong trường hợp này tội e là tội gì và e phải làm sao ạ ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Theo như quy định trên, việc hai người chung sống với nhau chỉ được pháp luật thừa nhận quan hệ hôn nhân khi có đăng ký kết hôn. Trường hợp bạn trai của bạn chỉ chung sống như vợ chồng với người khác mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý. Mà việc tổ chức đám cưới chỉ là hoạt động truyền thống, mang tính chất tinh thần mà không có ý nghĩa pháp lý về quan hệ hôn nhân.

Vì vậy, nếu bạn chưa kết hôn và bạn có quan hệ tình cảm với người này thì không vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau này bạn trai bạn và "vợ" anh ta có đăng ký kết hôn thì nếu bạn tiếp tục hành vi trên, thì đây được xác định là hành vi xâm phạm chế độ một vợ một chồng, bạn có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự nếu đủ điều kiện cấu thành tội phạm hình sự.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Ngoại tình bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư, chồng em đi xuất khẩu lao động tại Hàn quốc và có cặp bồ, hiện đại cô ta đang mang thai. Vậy xin hỏi luật sư trong trường hợp này chồng em có vi phạm luật hôn nhân gia đình không? Và nếu vi phạm thì anh ta sẽ phải chịu hình phạt như thế nào? Sau này đứa bé đó có được khai sinh với tên bố là chồng em không?
Nếu ra tòa li dị em có quyền đòi chia tài sản mà chồng em kiếm được bên Hàn Quốc không?
Mong luật sư tư vấn. Em xin chân thành cảm ơn

Ngoại tình bị xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..."

Giải thích cho căn cứ này có thể áp dụng tinh thần của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng quy định của Luật HN&GĐ 2000 quy định như sau:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt".

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh được cuộc hôn nhân của bạn là không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa. Đơn này bạn nộp ở Tòa án cấp Huyện nơi chồng bạn cư trú.

Trường hợp bạn đệ đơn ly hôn ra Tòa án thì bạn sẽ được hưởng một phần tài sản mà chồng bạn làm ra bên Hàn Quốc. Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về vấn đề tài sản chung của vợ chồng như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.".

Trong trường hợp này, số tài sản mà chồng bạn làm ra được ở bên Hàn Quốc được coi là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Nên số tài sản đấy về nguyên tắc sẽ được chia đôi, tuy nhiên có tính đến một số yếu tố được quy định tại khoản 2 Điều 59 kể trên.

Bạn sẽ không được nhận số tiền mà chồng bạn làm được ở bên Hàn Quốc nếu thuộc trường hợp sau: trước khi kết hôn các bạn áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong đó hai bên nêu rõ số tiền mà chồng bạn đi làm ở Hàn Quốc là thuộc tài sản riền của chồng bạn (Trường hợp các bạn kết hôn sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực. Còn trước thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực thì bạn chắc chắn sẽ được hưởng một nữa số tài sản chồng bạn làm ra).

Thứ hai, hành vi của chồng bạn có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;.."

Ngoài ra, nếu hành vi của chồng bạn gây ra hậu quả nghiêm trọng như: ly hôn, con tự sát... thì chồng bạn còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Hình sự:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.."

Thứ ba, về vấn đề khai sinh cho con ngoài giá thú: Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Hộ tịch quy định như sau:

"Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

Như vậy, trong trường hợp này, chồng bạn làm thủ tục nhận con thì Ủy ban nhân dân xá sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân và​ gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?