- 1. Nguồn nguy hiểm cao độ
- 2. Khái quát chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- 3. Nguồn nguy hiểm cao độ được xác định như thế nào?
- 4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh trong điều kiện nào?
- 5. Trường hợp nào được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
1. Nguồn nguy hiểm cao độ
Tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ liệt kê những loại tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ, mà không đưa ra khái niệm mang tính khái quát về nguồn nguy hiểm cao độ. Cụ thể điều luật như sau:
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định..."
Trong khái niệm này, nhà làm luật đã xây dựng khái niệm vẫn theo hướng liệt kê một số nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng sự liệt kê lại không thống nhất về nội hàm của các thuật ngữ.
Ta có thể thấy rằng sự hoạt động của tài sản nói chung, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng có thể chịu sự tác động hoặc không chịu sự tác động của con người. Tức là ngay cả khi con người “không vận hành” hoặc “không cho chúng hoạt động” thì bản thân nguồn nguy hiểm cao độ vẫn có những hoạt động “tự thân” ở bên trong, cùng với tác động của môi trường tự nhiên vẫn có thể gây ra thiệt hại. Ví dụ, các chất cháy, chất nổ gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể tự bốc cháy, phát nổ mà không cần con người sử dụng bất cứ loại chất xúc tác nào tác động vào chúng.
Vấn đề đặt ra là nếu xây dựng khái niệm theo hướng liệt kê như vậy thì hoặc sẽ không thể liệt kê đầy đủ về các loại nguồn nguy hiểm cao độ, hoặc là sẽ thể hiện sự cứng nhắc trong cách xây dựng khái niệm, về nguồn nguy hiểm cao độ.
Tuy nhiên ta có thể thấy rằng dù nguồn nguy hiểm cao độ đó gắn với sự hoạt động của bất cứ loại tài sản nào thì cũng đều có những đặc điểm chung, sau đây ta sẽ đi phân tích từng đặc điểm của nó như sau:
Thứ nhất, đặc điểm bất ngờ, gây thiệt hại luôn luôn không báo trước , khó lường trước và có thể ngăn chặn
Đúng vậy, nguồn nguy hiểm cao độ luôn “tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại bất ngờ cho con người hoặc gây thiệt hại về tài sản mà không phải bao giờ con người cũng có thể lường được trước và có thể ngăn chặn”.
Đặc điểm này cho thấy, con người “không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại”. Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường gây ra thiệt hại một cách bất ngờ, nhanh chóng. Mặc dù con người có thể nắm bắt được quy trình hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ (ví dụ sự vận hành của phương tiện giao thông cơ giới), nhưng hoạt động đó khi nào gây ra thiệt hại thì dường như con người khó có thể nhận biết, tức là việc gây thiệt hại thường xảy ra một cách đột ngột, bất ngờ (ví dụ thuốc súng, bom,... phát nổ sẽ gây thiệt hại ngay chứ không kéo dài một quá trình). Trong khi đó, hoạt động của các loại tài sản khác thường có quá trình gây thiệt hại kéo dài chứ không đột ngột như nguồn nguy hiểm cao độ (ví dụ, con trâu phá lúa phải trong một khoảng thời gian dài chứ không thể bước xuống ruộng là cả ruộng lúa sẽ bị hư hại).
Thứ hai, tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ cao hơn các loại tài sản khác
Khi nói về tần suất, thực sự tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ sẽ cao hơn các loại tài sản khác.
Các loại tài sản khác thường chỉ gây thiệt hại với tần suất thấp
Tuy nhiên, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường xảy ra liên tục. Ví dụ các vụ cháy, nổ xăng dầu, ga, thuốc súng,... thường kéo dài liên tục cho đến khi các loại chất này được đặt cạnh nhau cháy hoặc nổ hết.
Thứ ba, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường khó hạn chế, khắc phục
Thông thường thì các loại tài sản khác gây thiệt hại xong thì dẫn đến hậu quả ngay nên có thể dễ dàng khắc phục hậu quả, và thường thì việc gây thiệt hại sẽ không tiếp tục.
Ngược lại, đối với nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì không những chỉ xảy ra những hậu quả trước mắt (hậu quả ngay), mà còn có thể gây ra những hậu quả tiếp theo mà con người khó có thể ngăn chặn.
Ví dụ: Chất phóng xạ đã nhiễm khó khử sạch, thuốc nổ đã nổ một phần thì khó có thể hạn chế phần còn lại không nổ,...
Thứ tư, có thể gây thiệt hại ngay cả khi đang có sử quản lý chặt chẽ của con người
Mặc dù nguồn nguy hiểm cao độ có được chủ sở hữu hoặc chủ thẻ khác quản lý chặt chẽ nhưng đôi khi nó vẫn xảy ra thiệt hại cho người khác. Do đó, đòi hỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng không những phải quản lý chặt chẽ mà còn phải ngăn cản những người khác tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ. Trong Bộ luật Dân sự quy định trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trong trường họp để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Tức là việc quản lý không cẩn thận mà người khác có thể chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phát sinh ngay cả khi hoàn toàn do lỗi vô ý của người bị thiệt hại.
Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường khó kiểm soát, có thể vượt khỏi sự quản lý của con người, nên pháp luật quy định trách nhiệm của chủ sở hữu, của người chiếm hữu, sử dụng tài sản rất nghiêm ngặt. Theo đó, các chủ thể có trách nhiệm quản lý không những phải quản lý chặt chẽ nguồn nguy hiểm cao độ, mà còn phải ngăn cản những người xung quanh tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ. Điều này thể hiện ở quy định loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được loại trừ trách nhiệm bồi thường.
Như vậy, nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được loại trừ. Dựa vào những phân tích trên thấy rằng, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cao phải chịu trách nhiệm quản lý ở mức độ cao hơn so với trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng các loại tài sản khác. Điều này không phải vì nguồn nguy hiểm cao độ mang lại nhiều lợi ích hơn, mà do khả năng gây thiệt hại của nó cao hơn các loại tài sản khác.
2. Khái quát chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Thông thường, khi tài sản gây thiệt hại, việc xác định ai phải bồi thường thiệt hại sẽ căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.
- Nếu tài sản gây thiệt hại mà chủ thể đang quản lý có lỗi trong việc quản lý, thì phải bồi thường.
- Nếu tài sản gây thiệt hại trong trường hợp người quản lý tài sản tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý tài sản, thì ai là người được hưởng quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi ích do tài sản mang lại sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với lẽ công bằng. Khi tài sản gây thiệt hại, người quản lý tài sản bị suy đoán là có lỗi cho đến khi chứng minh mình không có lỗi trong việc quản lý tài sản. Những bằng chứng mà người quản lý tài sản đưa ra để loại trừ yếu tố lỗi là căn cứ quan trọng trong việc xác định chủ thể phải bồi thường. Đối với trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, dường như việc chứng minh “không có lỗi” trong quản lý tài sản không ảnh hưởng đến việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường ngay cả trong trường hợp không có lỗi.
=> Theo quy định này, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, người đang trực tiếp quản lý nguồn nguy hiểm cao độ sẽ phải bồi thường thiệt hại, bất kể người đó có lỗi hay không có lỗi. Người trực tiếp quản lý tài sản này có thể là người được hưởng lợi hoặc không được hưởng lợi ích từ tài sản mình quản lý. Điều này cho thấy, pháp luật đặc biệt đề cao trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Tuy nhiên, cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể này cũng khác nhau.
3. Nguồn nguy hiểm cao độ được xác định như thế nào?
Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật mà bản thân hoạt động của chúng đã tồn tại khả năng gây thiệt hại.
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra được khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thì:
“Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định“.
Như vậy, việc xác định một vật có phải nguồn nguy hiểm cao độ hay không, ta phải dựa vào các văn bản pháp luật có liên quan. Ví dụ:
- Phương tiện giao thông vận tải cơ giới được quy định tại điểm 13 điều 1 Luật Giao thông đường bộ quy định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật;
- Hệ thống tải điện có thể hiểu là gồm lưới điện truyền tải và các nhà máy điện đấu nối vào lưới điện truyền tải.
- Vũ khí theo quy định tại điểm 1 Luật quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì được định nghĩa thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.
- Chất cháy, chất nổ là chất lỏng, chất khí, chất rắn.. dễ gây ra cháy nổ. Chất cháy có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với oxy trong không khí, nước hoặc dưới tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ cao hoặc không cao (diêm, phốt pho, xăng dầu,.)
- Chất nổ với khả năng gây nổ mạnh, nhanh tỏa nhiệt và ánh sáng ( thuốc nổ, thuốc pháp, thuốc súng,..)
- Chất độc là những chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng của con người, động vật cũng như đối với môi trường xung quanh ( các chất độc bảng A như A-cô-ni-tin và các loại muối của nó, kẽm, phốt pho, ni-cô-tin,..)
- Chất phóng xạ thì căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Luật Năng lượng nguyên tử 2008 quy định Chất phóng xạ là chất phát ra bức xạ do quá trình phân rã hạt nhân, chuyển mức năng lượng hạt nhân, có hoạt độ phóng xạ riêng hoặc tổng hoạt độ lớn hơn mức miễn trừ. Chất phóng xạ là nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân gồm những đồng vị không bền của các nguyên tố hóa học, có khả năng phát ra những chùm tia phóng xạ không nhìn thấy, gây bệnh hoặc gây nhiễm xạ đối với người, động vật và môi trường sống.
Từ những phân tích ở trên, có thể khái quát nguồn nguy hiểm cao độ: “Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối”.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh trong điều kiện nào?
Đối với nguồn nguy hiểm cao độ vì bản thân nguồn nguy hiểm cao độ bản thân nó đã luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho cho người. Pháp luật đặt ra trách nhiệm chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, chủ sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ không được miễn trừ trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cần phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có sự kiện nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Trân trọng!
5. Trường hợp nào được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Căn cứ vào khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
...
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Như vậy, theo điều luật trên các trường hợp sau đây, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ, người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được miễn trừ trách nhiệm:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trân trọng!