- 1. Cơ sở pháp lý của nguồn nguy hiểm cao độ?
- 2. Nguồn nguy hiểm cao độ là gì?
- 3. Trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ thể hiện như thế nào?
- 4. Chủ sở hữu có nghĩa vụ như thế nào đối với nguồn nguy hiểm cao độ?
- 5. Trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại?
1. Cơ sở pháp lý của nguồn nguy hiểm cao độ?
Theo điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định các điều luật riêng biệt để điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong từng trường hợp cụ thể.
Trong đó, cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự trước đây và phần III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định củaBộ luật dân sự này về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (sau đây gọi là NQ 03/2006).
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định tại Điều 601. Như vậy, ở thời điểm hiện tại lúc bấy giờ, khi Bộ luật dân sự năm 2015 chưa có hiệu lực, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không chỉ căn cứ vào Điều 623 Bộ luật Dân sự, mà còn căn cứ vào hướng dẫn trong Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP. Song, những hướng dẫn trong Nghị quyết này còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận để hoàn thiện hơn, và sẽ được trình bày trong các phần sau.
2. Nguồn nguy hiểm cao độ là gì?
Tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ liệt kê những loại tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ, mà không đưa ra khái niệm mang tính khái quát về nguồn nguy hiểm cao độ. Cụ thể điều luật như sau:
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật..."
Trong một số công trình khoa học có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, một số tác giả cũng đưa ra khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ, có thể trích dẫn một số khái niệm như sau:
“Nguồn nguy hiểm cao độ là vật chất trong thế giới tự nhiên hay hoạt động máy móc, các phương tiện khoa học kỹ thuật... trong quả trình hoạt động cùa chúng dễ gây thiệt hại về tài sản, tỉnh mạng, sức khoẻ cho người khác mà con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối”.
Trong khái niệm này, nhà làm luật đã xây dựng khái niệm vẫn theo hướng liệt kê một số nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng sự liệt kê lại không thống nhất về nội hàm của các thuật ngữ.
Nhà làm luật đã sử dụng các cụm từ như: “hoạt động máy móc”, “các phương tiện khoa học kỹ thuật”, "hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động"... mà các cụm từ này có một số từ lại có các ý nghĩa khác nhau.
Ví dụ: Trong đó, có cụm từ “hoạt động máy móc” là nói đến hoạt động của một loại tài sản, hay cum từ “các phương tiện khoa học kỹ thuật” lại nói đến một loại tài sản. khi ta nói về nguồn nguy hiểm, cụ thể là nói đến nguồn nguy hiểm cao độ là nói đến một loại tài sản mà không phải nói đến hoạt động của một loại tài sản, mặc dù tại thời điểm gây thiệt hại, tài sản đó phải đang hoạt động (trạng thái của tài sản).
Ngoài khái niệm trên được xây dụng theo nhà làm luật, còn có các tác giả viết sách liên quan có nói và phân tích đến khái niệm này.
Ví dụ: Theo tác giả Nguyễn Thanh Hồng, “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm những động vật hoặc bất động vật mà khi trông giữ, vận hành chúng hoặc cho chủng hoạt động thì có thể gây nguy hiểm cao độ đối với tỉnh mạng, sức khoẻ của con người, cũng như có thể gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân ...”.
Đối với khái niệm của tác giải trên, cô vẫn đi theo hướng liệt kê bằng các cụm từ khác nhau (động vật, bất động vật). Tuy nhiên, việc sử dụng một số cụm từ như “vận hành chúng”, “cho chúng hoạt động” để nói đến hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là chưa đầy đủ. Việc sử dụng các cụm từ này cho thấy rằng, theo quan điểm của tác giả, hoạt động của các loại nguồn nguy hiểm cao độ phụ thuộc vào ý chí của con người mà không bao gồm “hoạt động tự thân”.
=> Kết luận: Nguồn nguy hiểm cao độ có thể hiểu đó là những loại tài sản mà hoạt động của nó luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho con người và môi trường xung quanh với mức độ cao hơn bình thường, khi đó chủ sở hữu, người chiếm hữu hay người sử dụng và những người là chủ thể khác khó có thể phòng tránh và phản ứng kịp thời.
3. Trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ thể hiện như thế nào?
Chủ sở hữu là người được thực hiện các quyền năng đối với tài sản, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Theo lẽ công bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu được hưởng, thì khi tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ xuất phát từ việc chủ sở hữu được hưởng lợi ích mà tài sản mang lại, bất kể trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, “chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật”.
Đây là nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc quản lý và sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Trong trường hợp chủ sở hữu vi phạm nghĩa vụ này thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Điều này cho thấy, trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ xuất phát từ những quyền mà chủ sở hữu được hưởng đối với nguồn nguy hiểm cao độ, mà còn xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ trong việc quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Để chứng minh cho điều này, có quy định tại khoản 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015:
“Khi chủ sở hữu nguồn ngụy hiểm cao độ có lỗi trong việc đe nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”.
Theo quy định này, trách nhiệm của chủ sở hữu xuất phát từ sự vi phạm trong việc quản lý tài sản. Việc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà chủ sở hữu cũng có lỗi, tức là chủ sở hữu đã “không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật”.
Đây là điểm khác biệt trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các loại tài sản khác gây ra. Thông thường, khi các loại tài sản khác bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật sẽ phải bồi thường thiệt hại.
Ví dụ, theo Điều 604 và Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, người chiếm hữu cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, bất kể việc chiếm hữu này là có căn cứ hay không có căn cứ pháp luật và chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi khi cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác bị chiếm hữu trái pháp luật.
Sự khác biệt này cho thấy pháp luật quy định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải có trách nhiệm quản lý nguồn nguy hiểm cao độ chặt chẽ hơn so với trách nhiệm của chủ sở hữu các loại tài sản khác. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không những phải quản lý chặt chẽ nguồn nguy hiểm cao độ mà còn phải ngăn chặn người khác tiếp cận với nguồn nguy hiểm cao độ nhằm hạn chế tới mức tối đa khả năng xảy ra thiệt hại.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại trong các trường họp sau: Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng (nếu không có thỏa thuận khác); xảy ra một trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; chủ sở hữu không có lỗi trong việc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại. Những trường họp cụ thể này sẽ được phân tích trong các nội dung tiếp theo.
Trân trọng!
4. Chủ sở hữu có nghĩa vụ như thế nào đối với nguồn nguy hiểm cao độ?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
“chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật”.
Đây là nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc quản lý và sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Trong trường hợp chủ sở hữu vi phạm nghĩa vụ này thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Điều này cho thấy, trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ xuất phát từ những quyền mà chủ sở hữu được hưởng đối với nguồn nguy hiểm cao độ, mà còn xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ trong việc quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
5. Trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại?
Nguồn nguy hiểm cao độ có thể hiểu đó là những loại tài sản mà hoạt động của nó luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho con người và môi trường xung quanh với mức độ cao hơn bình thường, khi đó chủ sở hữu, người chiếm hữu hay người sử dụng và những người là chủ thể khác khó có thể phòng tránh và phản ứng kịp thời.
Trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại nếu chủ sở hữu chứng minh được nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại trong các trường hợp sau:
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng (nếu không có thỏa thuận khác);
- Xảy ra một trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;
- Chủ sở hữu không có lỗi trong việc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại. Những trường họp cụ thể này sẽ được phân tích trong các nội dung tiếp theo.
Trân trọng