CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN​

>> Xem thêm:  Nghị viện là gì ? Khái niệm nghị viện được hiểu như thế nào ?

1. Cơ cấu tổ chức của Nghị viện

Nghị viện Pháp có hai viện: Thượng nghị viện Pháp gọi là Senat, còn Hạ nghị viện gọi là Quốc hội (L’ Assemblée Nationale). Thượng nghị viện đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ Pháp. Hạ nghị viện đại diện cho các tầng lóp dân cư trong xã hội và bầu theo tỷ lệ dân số. Thượng nghị viện và Hạ nghị viện khác nhau ở những điểm sau đây:

  • Hạ nghị sĩ do bầu cử đầu phiếu trực tiếp, còn thượng nghị sĩ do bầu cử đầu phiếu gián tiếp;
  • Số lượng hạ nghị sĩ là 577, còn số lượng thượng nghị sĩ là 321;
  • Nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ là 5 năm, còn nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ là 9 năm;
  • Để trở thành ứng cử viên vào Hạ nghị viện chỉ cần đủ 23 tuổi, còn để trở thành ứng cử viên vào Thượng nghị viện phải đủ 35 tuổi;
  • Tổng thống có thể giải tán Hạ nghị viện nhưng không thể giải tán Thượng nghị viện;
  • Nếu khuyết tổng thống hoặc vì những lý do khác mà tổng thống không thực hiện được nhiệm vụ của mình, chủ tịch Thượng nghị viện sẽ thực hiện chức năng của tổng thống.

So sánh quyền hạn của Thượng nghị viện và Hạ nghị viện ta thấy quyền hạn của Hạ nghị viện lớn hơn. Theo quy định tại Điều 45 và Điều 46 của Hiến pháp 1958- Hiến pháp hiện hành của nước Pháp thì mỗi dự án luật hay sáng kiến luật phải do cả hai viện biểu quyết chấp thuận. Nếu có sự bất đồng giữa hai viện thì phải thành lập một ủy ban hỗn hợp gồm một số đại biểu Thượng nghị viện và Hạ nghị viện bằng nhau để thảọ luận và thương thuyết. Nếu ủy ban không mang lại sự thỏa hiệp của hai viện thì Chính phủ sau khi đề nghị hai viện xem xét lại vấn đề một lẫn nữa, có thể yêu cầu Hạ nghị viện chung quyết với đa số tuyệt đối.

Theo Điều 49 của Hiến pháp 1958, Hạ nghị viện có thể buộc Chính phủ giải tán bằng cách bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ. Nếu có ít nhất 1/10 số Hạ nghị sĩ đề nghị bỏ phiếu không tín nhiệm thì cuộc bỏ phiếu không tín nhiệm sẽ diễn ra sau 48 giờ kể từ khi có đề nghị. Nếu đa số phiếu của Hạ nghị viện thể hiện sự không tín nhiệm thì Chính phủ phải giải tán.

Việc hình thành cơ chế hai viện tạo ra những ưu việt sau đây:

  • Sự bảo thủ của các thượng nghị sĩ làm cân bằng với sự thái quá của các lực lượng cấp tiến hay chịu ảnh hưởng của các áp lực trong xã hội mang tính chất nhất thời. Nhờ cơ chế này mà đảm bảo được sự ổn định của thiết chế chính trị.
  • Do việc thảo luận và thông qua các dự án luật phải tiến hành ở cả hai viện với những quan điểm khác nhau nên nội dung các văn bản luật được cân nhắc, xem xét kỹ hơn.

2. Quy chế Nghị sĩ

2.1 Điều kiện đối với các ứng cử viên

Như đã nói ở phần trước, ứng cử viên Hạ nghị sĩ phải đủ 23 tuổi, ứng cử viên Thượng nghị sĩ phải đủ 35 tuổi. Các ứng cử viên trước hết phải là những người có đủ tiêu chuẩn của cử tri, nghĩa là họ không bị kết án, không mắc các bệnh tâm thần. Hơn thế nữa các ứng cử viên phải là những người đã thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc là sĩ quan chuyên nghiệp. Những người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự thì không được ứng cử. Luật bầu cử của Pháp còn hạn chế một số trường hợp công chức không thể ứng cử trong một số hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, tỉnh trưởng, cảnh sát trưởng không thể ứng cử Nghị sĩ nơi mà họ đang thực hiện nhiệm vụ của mình.

Các ứng cử viên tự do vào Thượng nghị viện phải nộp 1.000 Phrăng. Số tiền này sẽ được hoàn trả lại nếu ứng cử viên thu được từ 5% trở lên tổng số phiếu bầu của cử tri.

Các ứng cử viên tự do vào Hạ nghị viện phải nộp 2.000 Phrăng. Số tiền này sẽ được hoàn trả nếu ứng cử viên thu được 10% tổng số phiếu bầu của cử tri.

>> Xem thêm:  Chế độ lưỡng viện là gì ? Tìm hiểu về chế độ lưỡng viện?

2.2 Nghị sĩ dự khuyết

Theo quy định của pháp luật hiện hành, mỗi ứng cử viên Nghị sĩ hạ viện hay thượng viện phải giới thiệu trước tập thể cử tri một người dự khuyết của mình. Nếu trong nhiệm kỳ của mình Nghị sĩ phải ngừng hoạt động vì được bổ làm bộ trưởng hoặc vì ốm đau, tai nạn mà chết thì người dự khuyết sẽ thay thế cho đến hết nhiệm kỳ. Tuy nhiên, nếu Nghị sĩ từ chức thì người dự khuyết không được thay thế mà phải tổ chức bầu bổ sung. Quy định về nghị sĩ dự khuyết nhằm để hạn chê' các cuộc bầu cử bổ sung, hạn chế của nó là ở chỗ nếu có sự thay đổi Nội các, thay đổi Chính phủ thì sẽ có rất nhiều Nghị sĩ dự khuyết trở thành chính thức.

2.3 Sự không kiêm nhiệm

Tổng thống nước Cộng hòa Pháp, Thủ tướng, các bộ trưởng, các chức vụ hành chính trực thuộc của Chính phủ, các thẩm phán không thể cùng lúc là Nghị sĩ. Nếu các Nghị sĩ được bổ nhiệm làm bộ trưởng, các chức vụ hành chính trực thuộc Chính phủ hoặc được bổ nhiệm làm thẩm phán... họ phải lựa chọn hoặc là Nghị sĩ hoặc là các chức vụ nói trên. Quy chế này hoàn toàn khác với quy chế đại biểu Quốc hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩã. Sở dĩ có nguyên tắc không kiêm nhiệm này là bởi ở Pháp cũng như nhiều nước phương Tây nguyên tắc phân chia quyền lực được quán triệt. Những người nắm quyền lập pháp không thể được trao quyền hành pháp và tư pháp. Ngược lại những người đã nắm quyền hành pháp hoặc tư pháp nếu trúng cử Nghị sĩ họ phải từ bỏ các chức vụ đó. kPhân tích nguyên tắc này chúng <a có thể thấy tính hai mặt của nó.

Về tính tích cực có thể thấy rõ là nó hạn chế được sự lạm dụng quyền lực. Nó tạo cho cơ quan lập pháp có đủ điều kiện để kiểm soát hoạt động của Chính phủ và toàn bộ cơ quan hành pháp. Nó tránh được khuyết tật thường thấy ở một số nước là nhiều vị đại biểu Quốc hội không dám chỉ trích, phê phán Thủ tướng và các bộ trưởng chỉ vì họ là những người chịu sự điều hành của Thủ tướng hoặc các vị bộ trưởng. Con đường công danh của họ phụ thuộc vào Thủ tướng hoặc các vị bộ trưởng là người lãnh đạo của họ.

Tuy nhiên quy định trên đây cũng có thể có mặt hạn chế là làm cho các nhà lập pháp không có thực tiễn nóng hổi của xã hội nếu họ là những người không được cung cấp thông tin một cách đầy đủ.

2.4 Lương của Nghị Sĩ

Các Nghị sĩ của Pháp được hưởng một khoản lương cấp bằng mức lương trung bình của các viên chức cao cấp nhất của Pháp. Từ năm 1993 khoản cấp này cũng được đánh thuế. Ngoài khoản nói trên các Nghị sĩ còn được hưởng các loại trợ cấp khác phục vụ cho công việc của họ, ví dụ, chu cấp cho thư ký của họ.

2.5 Công khai tài sản của Nghị sĩ.

Theo luật ngày 11/3/1988 tất cả các Nghị sĩ khi bắt đầu nhận chức và khi kết thúc nhiệm kỳ của mình phải báo cáo về tài sản của mình cho Nghị viện rõ. Quy định này nhằm mục đích không để cho các Nghị sĩ lợi dụng địa vị của mình để làm giàu và tham nhũng.

2.6 Giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện trong bầu cử.

Kết quả bầu cử Thượng nghị viện và Hạ nghị viện có thể bị tố giác, khiếu kiện khi có sự nghi ngờ về tính trung thực của kết quả. Trước đây, theo truyền thống hai viện sẽ tự xem xét về các khiếu kiện về kết quả bầu cử củạ các thành viên trúng cử bị khiếu kiện. Theo hiến pháp hiện hành của Pháp - Hiến pháp năm 1958 thì các khiếu kiện bầu cử sẽ do Hội’ đồng Hiến pháp xem xét. Hội đồng Hiến pháp chỉ nhân các khiếu kiện trong vòng 10 ngày sau khi kết quả bầu cử được thông báo. Hội đồng Hiến pháp có thể hủy bỏ kết quả bầu cử, có thể sửa đổi kết quả bầu cử sau khi kiểm phiếu lại. Thông thường thì Hội đồng Hiến pháp hủy bỏ kết quả bầu cử. Các cuộc bầu cử địa phương (Hội đồng công xã, Hội đồng quận...) do tòa án hành chính xem xét.

2.7 Cách thức bầu cử Nghị viện.

Như đã nói ở phần trước, theo Luật ngày 10/7/1985 Quốc hội Pháp (Hạ nghị viện) bao gồm 577 đại biểu trong đó 555 đại biểu của mẫu quốc (metropole) và 22 đại biểu lãnh thổ hắi ngoại. Quốc hội được đổi mới bằng bầu cử sau nhiệm kỳ 5 năm hoặc bằng cuộc bầu cử mới sau khi Quốc hội bị Tổng thống giải tán trước nhiệm kỳ. Thời gian từ kỳ họp đầu tiên đến kỳ họp cuối cùng của mỗi khóa Quốc hội người Pháp gọi là “legislature”.

Cuộc bầu cử Hạ viện Pháp được tổ chức trước khi nhiệm kỳ kết thúc 60 ngày hoặc trong thời hạn từ 20 đến 40 ngày sau khi Hạ nghị viện bị giải thể. Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày chủ nhật và trong cùng một ngày ở tất cả các tỉnh (department). Cách thức bầu cử là lấy theo đa số đơn danh hai vòng. Để được bầu vòng đầu các ứng cử viên phải đạt được đa số tuyệt đối trên 50% số phiếu bầu và với điều kiện số phiếu bầu đó không ít hơn 1/4 danh sách cử tri niêm yết.

Cuộc bầu cử vòng hai được tổ chức vào ngày chủ nhật tiếp theo với đa số tương đối. Chỉ những ứng cử viên nào đạt được không ít hơn 12,5% số phiếu bầu so với danh sách cử tri mới được tham dự. Lần này người thắng là người cao phiếu hơn và số phiếu này không cần đạt trên 50% như vòng đầu.

Kết quả của cuộc bầu cử tháng 3/1993 được thể hiện như sau:

  • Đảng cộng sản Pháp 24 ghế;
  • Đảng xã hội Pháp và các lực lượng cánh tả 67 ghế;
  • Đảng tập hợp vì nền cộng hòa (RPR) 242 ghế;
  • Liên minh dân chủ Pháp (UDF) 207 ghế;
  • Một số Đảng cực hữu 36 ghế;
  • Đảng mặt trận quốc gia (cực hữu) 1 ghê 10

Trong cuộc bầu cử này Liên minh trung hữu gồm Đảng tập hợp vì nền cộng hòa Pháp (RDR) mà đương kim Tổng thống Pháp Jaques Chirac là thủ lĩnh, cùng với Liên minh dân chủ Pháp (UDF) đã giành được đa số phiếu và trở thành liên minh Đảng cầm quyền của Pháp. Thế nhưng trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp ngày 1/6/1997 các đảng cánh tả Pháp đã giành được thắng lợi, chiếm 318 ghế trong tổng số 577 ghế của Hạ nghị viện; Đảng xã hội giành được 252 ghế; Đảng cộng sản 38 ghế (tăng. 14 ghế). Liên minh trung hữu cầm quyền RPR và UDF bị thất bại nặng nề, mất gần một nửa số ghế (từ 449 ghế xuống còn 257 ghế) Như vậy, nếu như ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác vấn đề Đảng cầm quyền không hề phụ thuộc vào vân đề bầu cử Quốc hội thì ngược lại ở Pháp cũng như các nước phương Tây khác vấn đề bầu cử Quốc hội, Nghị viện chính là cuộc đấu tranh để giành vai trò cầm quyền, giành vai trò lãnh đạo chính trị trong xã hội. Và vấn đề đổi ngôi trong việc giành quyền lãnh đạo là một hiện tượng bình thường. Điều đó không những thể hiện ở Pháp mà còn ở Anh, Hoa Kỳ và nhiều nước khác. Xem xét các thành phần xã hội (xét về nguồn gốc nghề nghiệp) của Quốc hội Pháp trong cuộc bầu cử năm 1993 ta có thể thấy sự phân bố như sau:

Trong số 577 đại biểu Quốc hội (Hạ nghị sĩ) có:

  • 162 đại biểu là nhà giáo (professeurs, enseignants) chiếm 28,08%.
  • 66 đại biểu là công chức cấp cao (hauls fontionnaires) chiếm 11,43%;
  • 65 đại biểu là cán bộ (cadres) chiếm 11,26%;
  • 30 đại biểu là các ông chủ xí nghiệp, công ty (patrons) chiếm 5,19%;
  • 29 đại biểu là luật sư (avocats) chiếm 1,38%.

Cũng theo số liệu bầu cử Quốc hội Pháp 1993 tỷ lệ nữ trong Nghị viện chỉ chiếm 6%. So với các nước Phương Tây thì tỷ lệ này là thấp nhất. Tỷ lệ nữ trong Nghị viện Italia là 8%, Anh Quốc 9%; Tây Ban Nha 15%, Liên bang Đức 20% và Hà Lan là 25%.

Cuộc bầu cử Hạ viện (National Assembly) gần đây nhất ở Pháp là cuộc bầu cử tháng 6 năm 2007. Trong cuộc bầu cử này các đảng cực hữu đã giành thắng lợi chiếm 345 ghế trong số 577 ghế của Hạ viện (Đảng liên minh vì phong trào nhân dân -Union pour un mouvement populaire viết tắt là UMP chiếm 313 ghế là đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện. Hai thủ lĩnh của Đảng Liên minh vì phong trào nhân dân là Nicolas Sarkozy và Francois Fillon đã giứ hai chức vụ quan trọng là Tổng thống và Thủ tướng Chính phủ. (Cuộc bầu cử Tổng thống diễn ra vào tháng 4 và tháng 5 năm 2007, ứng cử viên Nicolas Sarkozy đại diện của Đảng liên minh vì phong trào nhân dân đã giành được 31,18% số phiếu trong vòng 1 và 53,06 % trong vòng hai đã đánh bại ứng cử viên của Đảng xã hội Pháp là Segolene Royal và trở thành đương kim Tổng thống Pháp).

Thượng nghị viện Pháp như đã điểm qua ở phần trước đại diện cho các đơn vị hành chính, lãnh thổ của Pháp. Thượng nghị viện bao gồm 321 Nghị sĩ trong đó có 13 đại biểu đại diện cho lãnh thổ hải ngoại và 12 đại biểu tuyển lựa bổ sung bởi các đoàn cử tri đại diện của người Pháp ở nước ngoài. Nhiệm kỳ của Thượng nghị sĩ như đã nói là 9 năm nhưng mỗi lẩn bầu cử chỉ đổi mới 1/3 số Thượng nghị sĩ. Như vậy cứ ba năm thì Thượng nghị viện lại có một cuộc bầu cử để đổi mới thành phần Thượng nghị viện. Và các cuộc bầu cử cũng diễn ra trước khi kết thúc nhiệm kỳ của Thượng nghị sĩ 60 ngày. Cách thức bầu cử Thượng nghị sĩ là bầu cử gián tiếp. Khu vực bầu cử là các đơn vị hành chính tỉnh (department). Đoàn cử tri bao gồm: các đại biểu, các thành viên Hội đổng vùng (Conseil Regional), Hội đồng thành phố (Conseil Municipal). Trong số này đông nhất là đại biểu Hội đồng thành phố. (Chiếm 95% đoàn cử tri). Số lượng đại cử tri Hội đồng thành phố, công xã (Commune) phụ thuộc vào số lượng dân cư của các đơn vị hành chính - lãnh thổ đó. Các thành phố, công xã từ 9.000 dân trở xuống chọn 1 đến 15 đại cử tri, từ 9000 đến 30.000 thì tất cả thành viên Hội đồng thành phố, Hội đồng công xã là đại cử tri. Nếu thành phố, công xã trên 30.000 dân thì đại cử tri bổ sung theo tỷ lệ 1000 dân có 1 đại cử tri. Đối với bầu cử Thượng nghị viện việc bỏ phiếu đối với các đại cử tri là nghĩa vụ bắt buộc.

Mặt khác số lượng Thượng nghị sĩ chênh lệch trong các tỉnh từ 1 đến 12 theo dân số của tỉnh và cách thức bầu cử phụ thuộc vào số lượng Thượng nghị sĩ trong mỗi tỉnh. Nếu một tỉnh có dưới 5 thượng nghị sĩ thì cách thức bầu cử là bỏ phiếu đa số đơn danh hoặc liên danh. Vòng đầu lấy đa số tuyệt đối (trên 50%), vòng hai lấy đa số tương đối (không cần quá 50% số phiếu bầu của cử tri). Nếu tỉnh nào có từ 5 Thượng nghị sĩ trở lên thì thực hiện cách thức bỏ phiếu tỷ lệ liên danh. Tư tưởng chủ đạo của chế độ bầu cử này là đảm bảo cho mỗi Đảng phái chính trị (hay liên hiệp các Đảng phái chính trị) nhận được một số ghế đại biểu tương ứng với số phiếu của cử tri bầu cho từng đảng phái. Chế độ bầu cử này về cơ bản là công bằng, tuy nhiên cũng có những hận chế nhất định:

Hạn chế thứ nhất thể hiện trong điều kiện khi pháp luật không đảm bảo dân chủ nội bộ các Đảng phái thì chế độ bầu cử tỷ lệ chỉ có lợi cho các Đảng cầm quyền và đẩy các đảng phái nhỏ ra khỏi vũ đài chính trị.

Hạn chế thứ hai là trong cuộc bầu cử tỷ lệ sẽ xảy ra trường hợp không một đảng phái nào chiếm đa số ghế trong nghị viện và như vậy sẽ dẫn đến việc thành lập Chính phủ hỗn hợp. Việc hoạt động của Chính phủ sẽ gặp nhiều khó khăn vì khó có thể tạo ra một ê kíp làm việc ăn rơ với nhau. Hạn chế này không những thể hiện ở Pháp mà còn thể hiện ở Nhật và nhiều nước khác.

Ở Pháp 110 Thượng nghị sĩ đều bầu theo phương thức bỏ phiếu tỷ lê liên danh (trong đó 98 mẫu quốc và 12 là người Pháp ở nước ngoài).

Trong cuộc bầu cử Thượng nghị viện 1992 Thượng nghị viện Pháp có thành phần như sau:

  • Đảng cộng sản 15 ghế;
  • Đảng xã hội 70 ghế;
  • Đảng tập hợp vì nền cộng hòa (RPR) 242 ghế;
  • Đảng tập hợp dân chủ và châu Âu 22 ghế;
  • Liên minh trung phái 66 ghế;
  • Liên minh vì nền cộng hòa và độc lập 47 ghế;
  • Không đăng ký 10 ghế;

Trong nhiệm kỳ này trong số 321 Thượng nghị sĩ chỉ có 15 Thượng nghị sĩ là nữ.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

Câu hỏi về việc tổ chức nghị viện tại Pháp ?

Câu hỏi: Nghị sĩ Pháp khi bắt đầu nhận chức và khi kết thúc nhiệm kỳ của mình phải báo cáo về tài sản của mình cho Nghị viện rõ bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm nào?

Trả lời:

Theo luật ngày 11/3/1988 tất cả các Nghị sĩ khi bắt đầu nhận chức và khi kết thúc nhiệm kỳ của mình phải báo cáo về tài sản của mình cho Nghị viện rõ. 

Câu hỏi: Mục đích của việc quy định Nghị sĩ phải công khai tài sản của mình là gì?

Trả lời:

Quy định này nhằm mục đích không để cho các Nghị sĩ lợi dụng địa vị của mình để làm giàu và tham nhũng.

Câu hỏi: Ứng cử viên Hạ nghị sĩ Pháp phải đủ từ bao nhiêu tuổi trở lên?

Trả lời:

Ứng cử viên Hạ nghị sĩ phải đủ 23 tuổi trở lên.