1. Số lượng đại biểu, độ tuổi ứng cử

Nghị viện lập pháp hiện đại đầu tiên của Nhật Bản được thành lập theo Hiến pháp Minh Trị có hiệu lực từ 1889-1947. Tại thời điểm đó, Nghị viện Nhật Bản được chia ra thành 2 viện là Viện quý tộc và Chúng nghị viện (tương đương với Thượng viện và Hạ viện bây giờ). Sau khi Đế quốc Nhật chính thức đầu hàng quân Đồng minh vào năm 1945, thời điểm đánh dấu Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cùng với sự phát triển của xã hội dân chủ cũng như sự ảnh hưởngcủa các nước Đồng minh, nền chính trị của Nhật Bản cũng phần nào chịu sự ảnh hưởng. Một trong những sự thể hiện rõ nhất đó chính là các thành viên của Thượng viện và Hạ viện đều do nhân dân bầu ra (thay vì do Nhật Hoàng chỉ định như trước đây– đối với Thượng viện). Các đặc điểm của các thành viên trong 2 viện được liệt kê trong bảng dưới đây:

Tiêu chí

Hạ viện

Thượng viện

Số lượng[1]

465 thành viên, trong đó 289 thành viên được bầu từ các đơn vị bầu cử và 176 thành viên được bầu theo nguyên tắc đại diện

248 thành viên, trong đó 148 thành viên được bầu từ các đơn vị bầu cử và 100 thành viên được bầu theo nguyên tắc đại diện

Độ tuổi ứng cử[2]

Từ 25 tuổi trở lên

Từ 30 tuổi trở lên

2.  Cách thức bầu đại biểu

Việc bầu cử thành viên của hai viện được kết hợp giữa hai phương thức: đại diện tỷ lệ và đơn vị bầu cử. Cử tri đi bầu sẽ đồng thời bỏ 2 lá phiếu tương ứng với haiphương thức bầu cử trên. Theo đó, đối với phương thức đại diện tỷ lệ, cử tri sẽ viết tên ứng cử viên có trong danh sách ứng cử viên do các đảng nộp lên hoặc viết

tên đảng rồi bỏ phiếu. Số phiếu giành được của mỗi đảng sẽ bằng số phiếu ghitên đảng cộng với số phiếu ghi tên cá nhân, số ghế được phân bổ theo tỷ lệ theo phương pháp D’Hondt. Thứ tự các ứng cử viên trong nội bộ chính đảng được xác địnhbằng số phiếu giành được theo tên cá nhân và người trúng cử được xác định theo thứ tự từ trên xuống căn cứ trên số ghế mà mỗi đảng được phân bổ.

Về phương thức bầu cử theo đơn vị bầu cử, Luật Bầu cử của Nhật Bản quy định rõ số lượng thành viên được bầu theo từng đơn vị địa lý. Đối với Hạ viện, khu vực có số lượng đại biểu ít nhất và nhiều nhất lần lượt là Shikoku (số lượng quy địnhlà 6 người) và Kinki (số lượng quy định là 29 người)[3]. Đối với Thượng viện, mỗi đơn vị cấp tỉnh được phân bổ từ 2 đến 12 chỉ tiêu,trong đó nhiều nhất là Tokyo[4].

3.  Tổ chức các Ủy ban

Hệ thống Ủy ban tại Nhật Bản bao gồm có 02 loại là Ủy ban thường trực và Ủy ban đặc biệt.

Ủy ban đặc biệt được quy định tại Luật Nghị viện, theo đó việc thành lập và số lượng các Ủy ban đặc biệt không được quy định cụ thể mà tùy vào việc xem xét và quyếtđịnh của mỗi Viện trong việc cân nhắc các vấn đề đó có cần thiết hay không hoặccác vấn đề khác không thuộc thẩm quyền của bất cứ một ủy ban thường trực nào củaViện.

Ủy ban thường trực được quy định tại Điều 41 Luật Nghị viện Nhật Bản; hiện mỗi việncó 17 Ủy ban thường trực được đặt trong mối quan hệ tương với các Bộ trong Nội các và chức năng đặc biệt của một số Ủy ban như sau:

STT

Hạ viện

Thượng viện

Các Bộ trong
Nội các

Chức năng đặc biệt của
một số Ủy ban

1

Ủy ban về Nội các;

Ủy ban về Nội các;

 

Các vấn đề thuộc quyền hạn của Nội các và Văn phòng Nội các (trừ các vấn đề liên quan đến Ủy ban thường trực Ngoại giao và Quốc phòng, Tài chính, Kinh tế và Công nghiệp)

Các vấn đề thuộc quyền hạn của Viện Nhân sự, Cơ quan nội chính Hoàng gia, và Ủy ban an toàn công cộng quốc gia[5]

2

Ủy ban Nội vụ và Truyền thông;

Ủy ban Tổng hợp;

Bộ Nội vụ và Truyền thông

Các vấn đề thuộc quyền hạn của Bộ Nội vụ và Truyền thông (quản lý và thi hành hệ thống hành chính cơ bản của quốc gia, cấu trúc địa phương, dịch vụ liên quan đến hỏa hoạn và tình trạng khẩn cấp, thực hành các chiến lược phát triển áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông[6]), trừ các vấn đề liên quan đến Ủy ban thường trực Môi trường[7].   

3

Ủy ban Công tác tư pháp;

Ủy ban Công tác tư pháp;

Bộ Tư pháp

 

4

Ủy ban Đối ngoại;

Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng;

Bộ Ngoại Giao

 

5

Ủy ban Tài chính;

Ủy ban Tài chính;

Bộ tài chính

 

6

Ủy ban Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ;

Ủy ban Giáo dục, Văn hóa và Khoa học;

Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ

 

7

Ủy ban Y tế, Lao động và Phúc lợi;

Ủy ban Y tế, Lao động và Phúc lợi;

Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi

 

8

Ủy ban Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ngư nghiệp;

Ủy ban Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ngư nghiệp;

Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản

Các vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (đặt ra tiêu chuẩn chất lượng cho các sản phẩm thực phẩm, giám sát thị trường hàng hóa và buôn bán thực phẩm, và các dự án lấn biển, cải tạo đất)[8]

9

Ủy ban Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp;

Ủy ban Kinh tế và Công nghiệp;

Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp

 

 

10

Ủy ban Đất đai, Hạ tầng và Giao thông vận tải;

Ủy ban Đất đai và Giao thông vận tải;

Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và vận tải

 

11

Ủy ban Môi trường;

Ủy ban Môi trường;

Bộ Môi trường

 

12

Ủy ban về Các chính sách quốc gia cơ bản;

Ủy ban về Các chính sách quốc gia cơ bản;

Bộ quốc phòng

 

13

Ủy ban Ngân sách;

Ủy ban Ngân sách;

 

 

14

Ủy ban Kiểm toán và Giám sát hành chính;

Ủy ban Kiểm toán;

 

 

15

Ủy ban Quy tắc và Hành chính;

Ủy ban Giám sát hành chính;

 

Các vấn đề liên quan đến hoạt động của Viện[9]

16

Ủy ban An ninh;

Ủy ban Quy tắc và Hành chính;

 

 

17

Ủy ban Kỷ luật.

Ủy ban Kỷ luật.

 

Các vấn đề liên quan đến kỷ luật các thành viên của Viện[10]

 4. Tổng thư ký Quốc hội

TheoLuật Nghị viện Nhật Bản, Tổng Thư ký là một trong những thành viên lãnh đạo củamột Viện. Tổng Thư ký của một Viện sẽ được lựa chọn trong số những người không phải là thành viên của Nghị viện[11].

Trongtrường hợp bình thường, dưới sự giám sát của Chủ tịch Viện, Tổng Thư ký cótrách nhiệm ký các tài liệu, giữ các biên bản của các cuộc họp của Ủy ban và các phiên họp toàn thể… Tổng Thư ký là một chuyên gia cố vấn về mặt thủ tục cũng như các hoạt động khác, hỗ trợ Chủ tịch Viện trong quá trình điều hành hoạtđộng của Hạ viện. Ngoài ra, Tổng Thư ký còn có quyền tuyển dụng hoặc sa thải các thư ký cũng như nhân viên của Viện với sự nhất trí của Chủ tịch Viện cũng như sự chấp thuận của Ủy ban Quy tắc và Hành chính[12].

Tổng Thư ký giữ vai trò khá quan trọng, đặc biệt là trong trường hợp vắng Chủ tịchvà Phó Chủ tịch thì Tổng Thư ký sẽ tạm giữ vai trò Chủ tọa thay thế Chủ tịch Viện[13].

5.  Văn phòng Nghị viện

Nhật Bản áp dụng hệ thống lưỡng viện, bộ máy giúp việc lập pháp thành lập thuộc Nghị viện gồm có hai Văn phòng và hai Cục Pháp chế của hai Viện. Về cơ bản, Văn phòng Hạ viện và Văn phòng Thượng viện có tổ chức và hoạt động tương tự nhau.

Đứngđầu Văn phòng Hạ viện là Tổng Thư ký. Dưới quyền Tổng Thư ký là các Phó Tổng Thư ký và Cục trưởng Cục Điều tra nghiên cứu. Trong đó, dưới quyền Phó Tổng Thư ký là các Phòng Thư ký,Vụ Nghị sự, Vụ Công tác ủy viên, Vụ Biên bản họp, Vụ Cảnh vệ, Vụ Hành chính tổnghợp, Vụ Quản trị, Vụ Quốc tế, Nhà triển lãm chính trị lập hiến, Văn phòng BanThẩm tra Hiến pháp, Văn phòng Ban Thẩm tra và giám sát thông tin. Trong cơ cấutổ chức, các Vụ đều có Vụ trưởng và Vụ phó, Đối với Nhà triển lãm thì có Giám đốc, Đối với Văn phòng thì có Chủ nhiệm.

Văn phòng của Thượng viện bao gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Chủ tịch các ủy ban. Ngoài ra, Điều 16 Luật Nghị viện quyđịnh về các chức danh trong tổ chức bộ máy của mỗi viện bao gồm: Chủ tọa, Phó chủ tọa, Chủ tọa tạm thời, Chủ tịch các Ủy ban thường trực, và Tồng thư ký. Ngoài ra, Thượng viện còn có Ủy ban nghiên cứu, ban lập pháp và Hội đồng thảoluận về các vấn đề đạo đức chính trị.

6.  Điều kiện nghị sĩ

Các vấn đề liên quan đến lương và phụ cấp của Nghị sĩ được quy định tại Luật về Chi phí hàng năm, Chi phí đi lại, Phụ cấp, v.v. của các Thành viên của Nghị việnban hành năm 1947 và được sửa đổi bổ sung gần đây nhất vào năm 2020.  

Theo đó, về chi phí hàng tháng, Chủ tịch của mỗi Viện nhận 2.170.000 yên, Phó Chủ tịch nhận 1.584.000 yên, và các thành viên của Nghị viện nhận 1.294.000yên.

Chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên của mỗi Viện không được nhận chi phítrùng lặp hàng năm khi họ trở thành thành viên của các Viện khác hoặc trong bất kỳ trường hợp nào khác.

Khi có một thành viên của Nghị viện đồng thời là nhân viên công vụ quốc gia thì người đó sẽ chỉ nhận chi phí hàng năm với vai trò là Nghị sĩ, không được nhận lương của nhân viên công vụ. Tuy nhiên, nếu lương của nhân viên công vụ lớn hơn lương của Nghị sĩ thì người đó sẽ nhận được phần chênh lệch[14].

Về phí vận chuyển liên lạc tài liệu (như gửi tài liệu công) và giao tiếp vớicông chúng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch vàcác thành viên của mỗi Viện sẽ nhận được 1.000.000 yên mỗi tháng và khoản này không bị tính thuế.

Về chi phí đi lại, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên của mỗi Viện (trong một số trường hợp) sẽ nhận được loại vé ô tô đặc biệt miễn giá vé và phí, và nhận được vé di chuyển hàng không nội địa phù hợp với ngân sách, khu vực bầu cử...

Về trợ cấp cuối kỳ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên của mỗi Viện sẽ nhậm chức vào ngày 1 tháng 6 và ngày 1 tháng 12 sẽ nhận được phụ cấp cuối kỳ cho mỗi kỳ. Số tiền trợ cấp cuối kỳ là số tiền hàng tháng (được tính dựa vào tiền chi tiêu hàng năm) nhân với một tỷ lệ được xác định bởi Chủ tịch của cả hai Viện nhưng không quá 45%.

Về chi phí liên quan đến Thư ký, mỗi Nghị sĩ sẽ được bố trí 03 thư ký chính thức và tùytheo nhu cầu, Nghị sĩ sẽ tuyển dụng thêm các thư ký bằng kinh phí cá nhân. Các thư ký chính thức sẽ được nhà nước trực tiếp chi trả tiền lương, phụ cấp đi lại, phụ cấp cuối năm và phụ cấp chuyên cần. Tiền lương hàng tháng của thư ký tùy thuộc vào ngạch, thâm niên và tuổi tác, tuy nhiên theo quy định của Chủ tịch lưỡng Viện thì số tiền này nằm trong khoảng từ 267.000 yên đến 533.800 yên.

Ngoài ra, khi Chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên của Viện qua đời liên quan đến công vụ, người nhà của người qua đời sẽ nhận được tiền chia buồn cùng với một khoản tiền chia buồn đặc biệt.

Ngoài các khoản trên, các khoản trợ cấp khác liên quan đến chi phí hàng năm, hỗ trợ đi lại… sẽ được Chủ tịch mỗi Viện quy định.

7. Quy trình thông qua luật

Cácdự án luật được chia thành dự án luật do Nội các trình và dự án luật do Nghị sĩ trình. Quy trình lập pháp do Nội các và Nghị sĩ trình có sự khác nhau, tuy nhiên, thủ tục xem xét, thẩm tra tại Nghị viện về cơ bản là giống nhau.

Saukhi dự án luật được soạn thảo, thẩm tra và được thông qua tại Nội các (đối với luật do Nội các trình) thì dự án luật sẽ được Thủ tướng trình ra Nghị viện. Khi đó Nội các sẽ quyết định trình dự án luật lên Hạ viện hay Thượng viện. Sau đó, Chủ tịch Nghị viện sẽ giao cho một Ủy ban thường trực có lĩnh vực phù hợp với nội dung điều chỉnh của dự án luật để xem xét thẩm tra.

Quátrình thẩm tra dự án luật tại Ủy ban sẽ diễn ra như sau:

Giải trình: Ủy ban sẽ nghe Bộ trưởng chủ quản (nếu dự án luật do Nội các đề xuất) hoặc Nghị sĩ đứng tên trình (nếu dự án luật do Nghị sĩ đề xuất) giải trình về những nội dung chính trong dự án luật.

Chất vấn: theo phương thức một hỏi - một đáp giữa Ủy ban và cơ quan/cá nhân đề xuất dự án luật.

Thảo luận: các thành viên Ủy ban sẽ tiến hành thảo luận theo hình thức phe nhóm để thể hiện quan điểm và lý do tán thành hay phản đối

Quyết định thông qua: Chủ tịch Ủy ban công bố các nội dung cần quyết định. Nếu có đề xuất chỉnh lý thì trước tiên sẽ tiến hành biểu quyết dự thảo chỉnh lý. Sau khi dự thảo chỉnh lý được thông qua thì tiến hành biểu quyết đối với dự thảo gốc, không tính phầnnội dung chỉnh lý. Trong trường hợp phương án chỉnh lý bị bác bỏ thì tiến hành biểu quyết với dự thảo gốc.

Dự án luật sau khi thông qua sẽ kèm theo Nghị quyết của Ủy ban, trong đó có thể hiện ý kiến của Ủy ban. Nghị quyết này có hiệu lực về mặt chính trị nhưng không cóhiệu lực pháp lý.

Sau khi dự được thẩm tra tại Ủy ban, dự án luật sẽ được đưa ra xem xét tại phiên họp toàn thể. Sau khi nghe Chủ nhiệm Ủy ban báo cáo về nội dung dự án luật, quátrình và kết quả thẩm tra tại Ủy ban thì Nghị viện sẽ tiến hành biểu quyết căn cứ vào báo cáo của Ủy ban.

Sau quá trình xem xét tại phiên họp toàn thể, dự án luật sẽ được gửi sang Viện còn lại. Tại đây, dự án luật sẽ được thẩm tra theo quy trình tương tự và nếu được thông qua tại phiên họp toàn thể của Viện này thì dự án luật sẽ trở thành luật và được ban hành.

Đối với dự án luật chưa được thông qua tại Nghị viện dẫn đến chưa được ban hành thành luật thì sẽ bị hủy bỏ. Để được thẩm tra tại kỳ họp tiếp theo, dự án luậtphải được thực hiện theo các thủ tục từ đầu trừ các dự án luật được phiên họp toàn thể cho phép tiếp tục thẩm tra trong thời gian nghỉ họp thì được tiếp tục xem xét ở kỳ sau mà không cần trình lại.

Ghi chú:

[1] Điều 4 Luật Bầu cửsố 100 năm 1945 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 45 năm Reiwa thứ 2 (tức năm2020)

[2] Điều 10 Luật Bầucử

[3] Bảng 2 Luật Bầucử

[4] Bảng 3 Luật Bầucử

[5] https://www.sangiin.go.jp/japanese/joho1/kousei/eng/committ/list/l0063e.htm

[6] https://www.soumu.go.jp/english/soumu/index.html

[7] https://www.sangiin.go.jp/japanese/joho1/kousei/eng/committ/list/l0064e.htm

[8] http://www.maff.go.jp/e/role/index.html

[9] https://www.sangiin.go.jp/japanese/joho1/kousei/eng/committ/list/l0029e.htm

[10] https://www.sangiin.go.jp/japanese/joho1/kousei/eng/committ/list/l0031e.htm

[11] Điều 27 Luật Nghịviện năm Showa 22 (tức năm 1947) được sửa đổi bổ sung năm Heisei 26 (tức năm 2014)

[12] Điều 27, 28 LuậtNghị viện

[13] Điều 22, 23, 24Luật Nghị viện.

[14] Điều 6, 7 Luật về Chi phí hàng năm, Chi phí đi lại, Phụ cấp, v.v. củacác Thành viên của Nghị viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Giới thiệu về Nghị viện Nhật Bản và bộ máy giúp việc, NXB Hồng Đức

2.  Trung tâm nghiên cứu khoa học, Tổ chứcQuốc hội một số nước trên thế giới.

3.  Hiến pháp Nhật Bản, tạihttp://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=174

&vm=02&re=02

4.  LuậtBầu cử, tại https://elaws.e-gov.go.jp/document?lawid=325AC1000000100_20201

212_502AC0000000045&keyword=%E5%85%AC%E8%81%B7%E9%81%B8%E6%8C%99%E6%B3%95

5.  Luật về Chi phí hàng năm, Chi phí đi lại, Phụ cấp, v.v. của các Thành viên của Nghị viện, tại: https://elaws.e-gov.go.jp/document?lawid=322AC0000000080_20200501

_502AC0000000024&keyword=%E6%97%85%E8%B2%BB%E5%8F%8A%E3%81%B3%E6%89%8B%E5%BD%93%E7%AD%89%E3%81%AB%E9%96%A2%E3%81%99%E3%82%8B%E6%B3%95

6.  LuậtNghị viện, tại https://elaws.e-gov.go.jp/document?lawid=322AC0000000079_201

50801_000000000000000&keyword=%E5%9B%BD%E4%BC%9A

7.  Câu hỏi thường gặp, tại website Thượng viện: https://www.sangiin.go.jp/japanese/goiken_

gositumon/faq/a08.html#A08

8.  Committees, tại website của Hạ viện: https://www.shugiin.go.jp/internet/itdb_english.nsf/

html/statics/guide/committee.htm

9. Standing Committees, tại website của Hạ viện: https://www.shugiin.go.jp/internet/itdb_

english.nsf/html/statics/guide/committees.html

10.           The Cabinet Office's Role in the Cabinet/Structure, Cabinet Office,Government of Japan, tại website của Văn phòng Nội các:https://www.cao.go.jp/en/pmf/pmf_about.pdf