1. Nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản giai đoạn 1952 - 1973 là

A. Quan hệ chặt chẽ với các nước Đông Nam Á

B. Liên minh chặt chẽ với Mỹ

C. Hợp tác chặt chẽ với Trung Quốc

D. Liên minh chặt chẽ với các nước Tây Âu

→ B

Nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong giai đonạ 1952 - 1973 vẫn là liên minh chặt chẽ với Mỹ. Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật (kí năm 1951) có giá trị 10 năm, sau đó được kéo dài vĩnh viễn

 

2. Giới thiệu thông tin chung về Nhật Bản

 2.1 Tổng quan về đất nước Nhật Bản

Nhật Bản (Japan - gọi tắt là Nhật - tên chính thức là Nhật Bản Quốc) là một hòn đảo ở vùng Đông Á, có tổng diện tích là 379.954 km2 đứng thứ 60 trên thế giới và nằm bên sườn phía Đông của Lục Địa Châu Á. Đất nước này nằm bên rìa phía Đông của Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc và trải dài từ biển Okhotsk ở phía Bắc xuống biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía Nam.

Đất nước Nhật Bản thuộc vùng khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt, nhưng mỗi vùng lại có khí hậu khác nhau dọc theo chiều dài đất nước. Nước Nhật còn được biết đến với quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo và 186 núi lửa còn hoạt động.

Dân số Nhật Bản ước tính là 126.9 triệu người, đứng thứ mười trên thế giới. Theo truyền thuyết cổ phương Đông, cây dâu rỗng lòng gọi là phù tang hoặc khổng tang, là nơi thần mặt trời nghỉ ngơi trước khi tiếp tục du hành qua bầu trời từ Đông sang Tây, vì vậy phù tang có hàm ý văn chương chỉ nơi mặt trời mọc.

 

 2.2 Vị trí địa lý tự nhiên của đất nước Nhật Bản

Nhật Bản nằm ở phía Đông của Châu Á, phía Tây Thái Bình Dương là một đảo quốc, nên xung quanh đất nước bốn bề là biển. Về mặt địa lý, lãnh thổ Nhật Bản có 3.900 đảo nhỏ trong đó 4 đảo chính là Honshu, Hokkaido, Kyusshu và Shikoku chủ yếu là rừng núi chiếm khoảng 97% tổng diện tích.

Tổng diện tích của Nhật Bản là 379.953 km2, đứng thứ 60 trên thế giới và chiếm chưa đầy 0,3% tổng diện tích đất toàn thế giới. Nhật Bản có 47 tỉnh, mỗi tỉnh có hàng chục thị trấn và thành phố khác nhau, trong đó có 10 thành phố lớn mạnh nhất là Tokyo, Hiroshima, Kyoto, Sapporo, Naha, Nagoya, Fukuoka, Yakohama và Nikko.

Về mặt địa hình, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa trong đó núi cao nhất là núi Phú Sĩ có chiều cao 3776m - đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất của đất nước mặt trời mọc. Nơi thấp nhất của Nhật Bản là Hachinohe mine (sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m).

 

 2.3 Đơn vị hành chính của Nhật Bản

Nhật Bản có 10 thành phố lớn nhất là Tokyo, Hiroshima, Kyoto, Sapporo, Naha, Osaka, Nagoya, Fkouka, Yokohama và Nikko.

Ngoài ra, Nhật Bản có 47 To - Dou - Fu - Ken (Đô - Đạo - Phủ - Huyện), trong đó có 1 đô (Tokyo), 1 đạo (Hokkaido), 2 phủ (Kyoto và Osaka) và 43 huyện.

 

 2.4 Kinh tế Nhật Bản

Nhật Bản là một đất nước có nền kinh tế thị trường phát triển đứng thứ ba trên thế giới. Tuy nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, nhưng đây lại là đất nước hàng đầu về sản xuất và phát triển sắt thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí, sản xuất ô tô...

Năm 1940, tổng sản lượng kinh tế (GDP) của Nhật Bản đã đật 192 tỷ USD (quy đổi theo giá USD năm 1990) so với nước Anh là 316 tỷ USD, Pháp là 163 tỷ USD, Đức là 378 tỷ USD, Liên Xô là 417 tỷ USD.

Đơn vị tiền tệ của Nhật Bản là JPY (Yên Nhật), tỷ giá 1 JPY = 206 VNĐ, 1 Man = 10.000  Yên (tương đương 2.000.000 VNĐ), 1 Sen = 1.000 Yên (tương đương 200.00 VNĐ)

 

 2.5 Thời tiết & khí hậu Nhật Bản

Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa có 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông. Vào mùa Hạ (từ tháng 6 đến tháng 8), nhiệt độ ẩm ở đây tương đối cao và lượng mưa khá nhiều nên đất nước Nhật Bản thường xuyên phải hứng chịu những thiên tai như bão lũ, sóng thần, động đất. Tuy nhiên, với công nghệ phát triển, những nhà trắc địa và nghiên cứu khí hậu Nhật Bản có thể dự báo và đo lường những tình huống thời tiết xấu để cảnh báo cho mọi người dân đất nước. Còn vào mùa Đông (từ tháng 12 đến tháng 2), nước Nhật chìm đắm trong tuyết rơi và nhiệt độ có khi xuống - 30 độ C.

 

2.6 Ngôn ngữ sử dụng phổ biến tại Nhật Bản

Ở Nhật Bản, ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất là tiếng Nhật, ngôn ngữ này được chia thành nhiều ngữ điệu khác nhau. Trong đó, ngôn ngữ tiêu chuẩn (có gốc từ phương ngữ Tokyo) được xem là ngôn ngữ chính. Còn ngôn ngữ được sử dụng ở Okinawa và quần đảo Amami giống như "ngôn ngữ Lưu Cầu" khác biệt so với tiếng Nhật.

Trong quá khứ ở phía nam đảo Sakhalin được sử dụng một số ngôn ngữ khác thuộc ngữ tộc Tungus như tiếng Orok và tiếng Evenki cùng sử dụng một ngôn ngữ không rõ nguồn gốc là tiếng Nivkh. Sau khi Liên Xô chiếm đóng toàn bộ đảo Sakhalin, đã có một xu hướng di dân nhỏ đến Nhật Bản đại lục. Ngoài ra, Tiếng Ainu được sử dụng bởi những tộc người Ainu ở Hokkaido, là ngôn ngữ khác ngoài tiếng Nhật. Từ thời kỳ Minh trị trở đi, việc sử dụng tiếng Nhật ngày càng phổ biến, nên tiếng Ainu đang dần bị mất đi và được xếp vào loại ngôn ngữ hiếm cần được bảo tồn và lưu giữ.

 

3. Giới thiệu tổng quan về con người Nhật Bản

Theo thống kê năm 2017, dân số chung cả nước Nhật Bản là 126.9 triệu người, chiếm 1.68% số người trên thế giới. Người Nhật rất khỏe mạnh, dẻo dai, ngay cả phụ nữ cũng có thể đứng làm việc cả ngày, thậm trí những người 70 - 80 tuổi vẫn hăng hái làm việc, không phải tham tiền mà vì họ rất yêu thích làm việc. Vậy nên thế giới vẫn gọi người Nhật là Labor animal (con vật lao động)

Tính cách con người Nhật Bản hết sức đặt  biệt, có lẽ nhờ tính cách này mà người Nhật đã biến đất nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt của mình trở thành một cường quốc tiên tiến đứng thứ 3 trên thế giới. Có thể tóm tắt những tính cách đặc trưng đó như sau:

  • Người Nhật có tính hiếu kỳ và nhạy cảm với các văn hóa nước ngoài, họ luôn chăm chỉ tìm tòi và học hỏi để bắt kịp trào lưu đó.
  • Đối với người Nhật, địa vị gia thế, địa vị xã hội và thu nhập không quan trọng, quan trọng là trình độ học vấn.
  • Họ sẵn sàng tiếp nhận những văn hóa hiện đại mới, nhưng vẫn luôn giữ bản sắc dân tộc của mình.
  • Tinh thần làm việc tập thể rất cao, không thể tìm thấy được ở bất kỳ quốc gia phương Đông nào khác. Trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi của bản thân và đề cao cái chung. Họ có thể cạnh tranh gay gắt, song cũng có lúc bắt tay với nhau để đạt được mục đích chung.
  • Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân, họ luôn giữ gìn sự hòa hợp đến mức phớt lờ đi sự thật, đối với họ gìn giữ sự nhất trí, sự hòa bình, thể diện và uy tín là vấn đề cốt tử.
  • Người Nhật có đức tính rất chăm chỉ và trung thành

Một số dân tộc ở Nhật Bản:

 

3.1. Dân tộc Yamato

Dân tộc Yamato (Wajin) từng sinh sống ở vùng Hondo (nay là vùng Honshu, Shikoku, Kyushu). Ngày nay, hầu hết người dân Nhật Bản là con cháu của dân tộc Yamato này.

 

3.2. Dân tộc Ainu

Dân tộc Ainu sống chủ yếu trên hòn đảo Hokkaido và các hòn đảo trải dài từ Hokkaido đến Nga. Dân tộc Ainu có ngôn ngữ và phong tục tập quán khác với người Nhật Hondo (dân tộc Yamato). Năm 1868 - 1912, chính phủ Minh Trị của Hondo đã tiến hành khai phá vùng Hokkaido, mặt khác lại đưa người Yamato đến đây sinh sống và biến vùng đất này thành lãnh thổ Nhật Bản. Sau đó, chính quyền Minh Trị trao cho người dân bản địa Ainu quyền công dân và họ trở thành công dân Nhật Bản như ngày nay.

 

3.3. Dân tộc Ryukyu

Dân tộc Ryukyu sống ở tỉnh Okinawa, quần đảo Amami thuộc tỉnh Kagoshima ngày nay. Dân tộc Ryukyu có ngôn ngữ, phong tục tập quán và văn hóa khác với người Nhật Hondo (dân tộc Yamato). Dân tộc Ryukyu từng là một vương quốc rất phát triển và hưng thịnh nhờ việc giao thương với Trung Quốc. Năm 1609 thời Edo, Satsuma -han tiến hành xâm lược Vương Quốc Ryukyu và biến vương quốc trở thành một nước chư hầu của Nhật Bản. Sau đó, vào năm 1871 thời Edo, chính phủ Minh Trị phế bỏ vương quốc Ryukyu, đặt Okinawa vào khu vực quản lý của Hondo và biến vương quốc Ryukyu thành một phần của Nhật Bản.

Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản giai đoạn 1952 - 1973 là? Hy vọng đây sẽ là những thôn tin hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!