Việt Nam có thể rút ra bài học gì về sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản?

A. Khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên

B. Áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật một cách hiệu quả vào sản xuất

C. Đầu tư nghiên cứu khoa học và chú trọng giáo dục

D. Giảm chi phí cho quốc phòng để tập trung phát triển kinh tế

⇒ B

 

1. Thông tin chung về Nhật Bản

1.1 Tổng quan về đất nước Nhật Bản

Nhật Bản (Japan -  gọi tắt là Nhật - tên chính thức là Nhật Bản Quốc) là một hòn đảo ở vùng Đông Á, có tổng diện tích là 379.954 km2 đứng thứ 60 trên thế giới và nằm bên sườn phía Đông của Lục Địa Châu Á. Đất nước này nằm bên rìa phía Đông của Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc và trải dài từ biển Okhotsk ở phía Bắc xuống biến Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía Nam.

Đất nước Nhật Bản thuộc vùng khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt, nhưng mỗi vùng lại có khí hậu khác nhau theo chiều dài đất nước. Nước Nhật còn được biến đến là quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo và 186 núi lửa còn hoạt động.

Dân số Nhật Bản ước tính là 126.9 triệu người, đứng thứ 10 trên thế giới. Thủ đô Tokyo bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân sinh sống và cũng là thành phố đông dân thứ tám trong khối OECD, có nền kinh tế đô thị phát triển nhất hành tinh.

Nhật Bản còn được gọi là đất nước phù tang hay đất nước mặt trời mọc. Theo truyền thuyết cổ phương Đông, cây dâu rỗng lòng gọi là phù tang hoặc khổng tang, là nơi thần mặt trời nghỉ ngơi trước khi tiếp tục du hành qua bầu trời từ Đông sang Tây, vì vậy phù tang có hàm ý văn chương chỉ nơi mặt trời mọc.

 

1.2 Vị trí địa lý tự nhiên của Nhật Bản

Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây Thái Bình Dương là một hòn đảo quốc, nên xung quanh đất nước bốn bề là biển. Về mặt địa lý, lãnh thổ Nhật Bản có 3.900 đảo nhỏ trong đó 4 đảo chính là Honshu, Hokkaido và Kyushu và Shikoku chủ yếu là rừng núi chiếm khoảng 97% tổng diện tích.

Việt Nam có thể rút ra bài học gì về sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản?

Về mặt địa hình, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa trong đó núi cao nhất là núi Phú Sĩ có chiều cao 3776m - đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất của đất nước mặt trời mọc. Nơi thấp nhất của Nhật Bản là Hachinohe mine ( sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m).

 

1.3 Đơn vị hành chính của Nhật Bản

Nhật Bản có 10 thành phố lớn nhất là Tokyo, Hiroshima, Kyoto, Sapporo, Naha, Osaka, Nagoya, Fukuoka, Yokohama và Nikko.

Ngoài ra, Nhật Bản có 47 To-Dou-Fu-Ken (Đô-Đạo-Phủ-Huyện), trong đó có 1 đô (Tokyo), 1 đạo (Hokkaido), 2 phủ (Kyoto và Osaka) và 43 huyện.

 

1.4 Kinh tế Nhật Bản

Nhật Bnả là một đất nước có nền kinh tế thị trường phát triển đứng thứ ba trên thế giới. Tuy nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, nhưng đây lại là đất nước hàng đầu về sản xuất và phát triển sắt thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí, sản xuất oto,...

Năm 1940, tổng sản lượng kinh tế (GDP) của Nhật Bản đã đạt 192 tỷ USD (quy đổi theo giá USD năm 1990) so với nước Anh là 316 tỷ USD, Pháp là 163 tỷ USD, Đức là 387 tỷ USD, Liên Xô là 417 tỷ USD...

Đơn vị tiền tệ của Nhật Bản là JPY (Yên Nhật), tỷ giá 1 JPY = 206 VNĐ, 1 Man = 10.000 yên (tương đương 2.000.000 VNĐ), 1 Sen = 1.000 yên (tương đương 200.000 VNĐ).

 

2. Kinh tế Nhật Bản sau thế chiến thứ II - sự phát triển thần kỳ

Như một đất nước bị đánh bại, sau chiến tranh thế giới II, Nhật bản đã rơi vào một cuộc khủng hoàng nghiêm trọng, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, Nhật Bản đã thực hiện cải cách ruộng đất, cải cách công ty và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động...Điều này đã mang đến sự phát triển "phép màu" của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn này. Giai đoạn 1951 - 1973.

 

2.1 Sau chiến tranh thế giới II, nền kinh tế Nhật Bản thế nào?

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nền kinh tế Nhật Bản rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, thiếu năng lượng, lạm phát kinh tế, vấn đề thất nghiệp. Nhật Bản đã bị quân đội Mỹ chiếm đóng.

Hầu hết các cơ sở sản xuất được chuyển đổi thành sản xuất chiến tranh, hầu hết đều bị phá hủy trong chiến tranh. Với 6 triệu người lính Nhật Bản và dân thường trở về từ mọi vùng chiến tranh ở Thái Bình Dương, chính phủ Nhật Bản đối mặt với gánh nặng thất nghiệp

  • Giải thể nhóm zaibatsu: mục tiêu này nhằm phá hủy quyền lực quân sự của Nhật Bản, xóa bỏ quyền kiểm soát một số công ty lớn trong nền kinh tế.
  • Đồng thời, thực hiện cơ cấu lại các công ty theo hướng của centralization. Giải pháp này đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ cho tất cả các ngành công nghiệp và cơ chế thị trường mạnh mẽ.
  • Giải quyết vấn đề về công việc: cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho công nhân. Cụ thể, thực hiện dân chủ hóa lao động.
  • Trong thời gian từ năm 1945 - 1947, ba luật được ban hành: luật công đoàn, luật tiêu chuẩn lao động và luật quy định về quan hệ lao động.
  • Cải cách đất: nó được quy định rằng các nhà địa chủ chỉ có thể giữ một phần đất của họ, tối đa là 5 ha, giảm xuống còn 1 ha. Phần còn lại của nhà nước sẽ mua và chuyển sang nông dân không có đất.

 

2.2 Sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II

Với "tinh thần của Nhật Bản" và sự đồng thuận của toàn bộ người dân của đất nước Nhật Bản khoảng 20 năm sau chiến tranh - 1973, nền kinh tế Nhật Bản phát triển ở một tốc độ choáng váng chóng mặt. Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là sự phát triển "phép màu" của nền kinh tế Nhật Bản.

Từ sự tàn phá sau chiến tranh, Nhật Bản trở thành sức mạnh kinh tế thứ hai trong thế giới tư bản sau khi Hoa Kỳ. Cụ thể:

Tăng trưởng kinh tế nhanh

Từ năm 1952 đến năm 1973, tốc độ tăng trưởng sản phẩm trong nước của Nhật Bản là cao nhất trong các nước tư bản. So với thời gian năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm quốc nội tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD đến 402 tỷ USD, vượt qua Anh, Pháp và Đức.

Tỷ lệ phát triển công nghiệp vào năm 1950 - 1960 là 15,9%; từ 1960 - 1969 là 13,5%. Gía trị sản lượng công nghiệp tăng từ $ 4.1 tỷ năm 1950 đến $ 26.4 tỷ năm 1969.

Ngành công nghiệp phát triển

Các ngành công nghiệp then chốt đã tăng trưởng nhanh chóng. Mặc dù Nhật bản hầu như không có mỏ dầu, đó là nước tư bản hàng đầu trong việc nhập khẩu và xử lý dầu thô. Chỉ riêng năm 1971, nó nhập khẩu 186 triệu tấn dầu thô; sản xuất thép năm 1950 là 4,8 triệu tấn; vào năm 1973, nó có 117 triệu tấn.

năm 1960, ngành công nghiệp ô tô của Nhật đứng thứ sáu thế giới tư bản và năm 1967 đã tăng lên vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ.

Sự phát triển nhanh chóng của một số thành phần kinh tế lớn đã thay đổi nhanh chóng cấu trúc ngành sản xuất của Nhật Bản. Tỷ lệ ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản đã giảm đáng kể. Thay vào đó, có sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp và dịch vụ.

Hiện tại, Nhật Bản là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng đầu ở châu Á và thế giới. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, Nhật Bản đã thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động từ nhiều nước trong khu vực, trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường chính.

 

2.3 Yếu tố mang lại sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản

Thúc đẩy vai trò của nhân tố

Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản trước tiên phải đến với nhân tố con người. Thừa kế giáo dục của giai đoạn trước, vì thế chiến II, Nhật Bản đã chiếm được hệ thống giáo dục trong 9 năm. Trên cơ sở đó, người Nhật tập trung vào việc đào tạo một nhóm công nhân có kỹ năng, có khả năng nắm bắt và sử dụng kỹ thuật mới và công nghệ mới.

Ngoài ra, nhân viên khoa học và kỹ thuật của Nhật Bản khá lớn và có chất lượng cao, là một đóng góp lớn cho sự phát triển kỹ thuật và công nghệ của đất nước.

Người quản lý kinh doanh cũng được coi là những người nhạy cảm biết cách nắm bắt thị trường và đổi mới các phương pháp kinh doanh, mang về chiến thắng của các công ty Nhật trong đấu trường quốc tế.

Duy trì tích lũy và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả

"Quốc gia mặt trời mọc" được goi là đất nước với tỷ lệ tích lũy vốn cao nhất trong các nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy vốn thường xuyên trong kỳ 1952-1973 là khoảng 30-35% thu nhập quốc gia.

Đặc biệt, tỷ lệ đầu tư vào vốn cố định trong tổng sản phẩm xã hội của Nhật Bản là cao. Đây là một trong những yếu tố quyết định, đảm bảo nền kinh tế Nhật Bản phát triển ở tốc độ cao.

Về việc sử dụng vốn, Nhật Bản cũng là một cách sử dụng táo bạo và hiệu quả. Ở Nhật Bản, nhiều ngân hàng thương mại chấp nhận các khoản vay đến 95% của tổng vốn. Một số biện pháp nguy hiểm này tạo điều kiện cho việc tăng số vốn chuyển sang sản xuất và kinh doanh.

 

3. Việt Nam có thể học tập những gì từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản?

Nhìn từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, ta nhận thấy có rất nhiều bài học đáng để Việt Nam học tập, noi theo.

 

3,1 Yếu tố con người

Con người lầ chủ thể trong việc phát triển kinh tế, xây dựng xã hội. Nhật Bản nổi tiếng là đất nước của những con người kỷ luật cao, sáng tạo và cần cù trong công việc.

Ngoài ra, họ còn có một tinh thần kỷ luật thép, một hệ thống tổ chức quản lý hiệu quả. Họ quan niệm con người là yếu tố quyết định mọi sự thành công hay thất bại.

Chính vì thế, việc đào tạo con người làm chủ công nghệ, tiếp thu và ứng dụng các thành tựu trên thế giới được Nhật Bản quan tâm hàng đầu.

 

3.2 Nhật Bản chú trọng đầu tư vào khoa học kỹ thuật

Nhật Bản vừa chú ý phát triển các cơ sở nghiên cứu trong nước vừa chú ý mua các phát minh của nước ngoài. Bên cạnh việc phát triển công nghệ dân dụng, Nhật Bản sẵn sàng mua các bằng sáng chế phát minh để giúp đất nước phát triển nhanh hơn.

 

3.3 Yếu tố giáo dục

Nhật Bản rất quan tâm đến việc cải cách nền giáo dục quốc dân, quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo nhân tài. Một đất nước mạnh là một đất nước có trình độ dân trí đạt mức cao. Chính vì thế, giáo dục là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước.

Tóm lại, bài học Việt Nam có thể học tập từ Nhật Bản đó chính là chúng ta cần chú trọng đầu tư vào con người. Đây là yếu tố quan trọng nhất để phát triển đất nước nhanh và bền vững, có thể vượt qua được mọi khó khăn.

Việt Nam cần ưu tiên phát triển giáo dục, kỹ năng và tinh thần tốt cho con người. Đầu tư vào con người luôn là một khoản đầu tư sinh lời.

Có thể nói, chất lượng của nguồn nhân lực tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển về mọi mặt của một quốc gia, đặc biệt về kinh tế.

Song song với đó, Việt Nam cần chú trọng việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện các công nghệ, kỹ thuật. Sử dụng tốt vốn đầu tư nước ngoài. Đẩy mạnh hợp tác, giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật với các quốc gia.

Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Việt Nam có thể rút ra bài học gì về sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản. Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!