1. Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Điều 402, Khoản 5 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là một dạng hợp đồng mà tất cả các bên tham gia đều phải thực hiện các nghĩa vụ của mình, trong khi người thứ ba sẽ được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó. Ngoài các đặc điểm chung của một hợp đồng thông thường, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba còn mang đến những đặc tính đặc biệt trong quá trình hình thành và thực hiện.
Thứ nhất, tính thỏa thuận
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là biểu hiện của ý chí từ các chủ thể, chúng bắt nguồn từ sự thỏa thuận và hội tụ tại một điểm được gọi là ý chí chung của các bên tham gia. Mặc dù bản chất của hợp đồng là sự trao đổi lợi ích giữa các bên, tuy nhiên, đối với loại hợp đồng này, người thứ ba vẫn được hưởng lợi ích mặc dù không phải là một trong những bên ký kết hợp đồng. Có nhiều tên gọi khác để chỉ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, trong đó phổ biến nhất là hợp đồng bảo hiểm. Trong hợp đồng bảo hiểm, ngoài mục đích chính là nhận bảo hiểm, người thứ ba cũng được hưởng lợi ích từ hợp đồng, và có thể gọi là người thứ ba đồng hưởng lợi từ hợp đồng. Điểm đặc biệt để phân biệt loại hợp đồng này với các hợp đồng thông thường là sự xuất hiện của quyền lợi của người thứ ba, điều này là điều kiện cần thiết đối với loại hợp đồng này.
Thứ hai, tính ràng buộc quyền và nghĩa vụ của người thứ ba
Đây là chủ thể hưởng lợi từ hợp đồng và trong phạm vi các điều kiện của hợp đồng, chủ thể này đặc biệt có quyền và nghĩa vụ nhất định. Cụ thể, chủ thể này có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Điều 415 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Chủ thể cũng được quyền từ chối nhận lợi ích, và có thẩm quyền quyết định đồng ý hoặc không đồng ý với việc sửa đổi hoặc bổ sung hợp đồng, theo những quy định tại Điều 416 và 417 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, một thách thức pháp lý nảy sinh liên quan đến việc xem xét liệu người thứ ba có thể chuyển giao quyền của mình hay không. Ngoài ra, trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp người thứ ba qua đời cũng là một vấn đề đang chờ đợi sự giải quyết từ phía những nhà lập pháp, vì đến thời điểm hiện tại, chưa có sự đề cập cụ thể từ pháp luật.
Thứ ba, điều kiện về tồn tại người thứ ba
Do đó, kể từ khi hợp đồng bắt buộc tồn tại người thứ ba, việc này giúp xác định chính xác chủ thể hưởng lợi từ hợp đồng. Điều 402, Khoản 5 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, cung cấp các quy định chi tiết về người thứ ba để giúp định rõ các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, vấn đề về việc liệu người thứ ba có phải là cá nhân hay pháp nhân, và liệu năng lực chủ thể của người thứ ba có phải là điều kiện bắt buộc hay không, vẫn chưa được mô tả rõ ràng. Điều này dẫn đến việc khi áp dụng, sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, phụ thuộc vào tư duy và quan điểm của từng chủ thể áp dụng.
2. Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hay không?
Điều 34 của Bộ luật Lao động 2019 quy định những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
- Hợp đồng lao động đã hết hạn, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 của Điều 177 trong Bộ luật này.
- Công việc đã được hoàn thành theo nội dung của hợp đồng lao động.
- Hai bên đồng thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
Theo quy định này, pháp luật cho phép công ty và người lao động tự thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu công ty muốn người lao động nghỉ việc và đề nghị thỏa thuận, và nếu người lao động đồng ý, thì chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận của cả hai bên là hoàn toàn hợp pháp.
Tuy nhiên, trong trường hợp người lao động không đồng ý với thỏa thuận và muốn tiếp tục làm việc, công ty không thể chấm dứt hợp đồng lao động theo diện thỏa thuận. Trong trường hợp này, nếu công ty muốn người lao động nghỉ việc, phải tuân thủ đúng quy định tại Điều 36 của Bộ luật Lao động 2019.
3. Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba hay không?
Tại Điều 417 của Bộ Luật Dân sự 2015, quy định như sau:
Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích, dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý.
Rõ ràng, quy định về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng lao động là do ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng quyết định. Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, quyền này bị giới hạn bởi ý chí của người thứ ba.
Theo quy định này, chỉ khi người thứ ba đồng ý, hợp đồng mới có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ. Điều này nhằm đảm bảo lợi ích cho người thứ ba, ngăn chặn trường hợp các bên trong hợp đồng sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng gây thiệt hại cho người thứ ba.
Lưu ý rằng, chỉ khi người thứ ba đã chấp nhận hưởng lợi ích từ hợp đồng, các bên mới cần sự đồng thuận của họ để sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Trong trường hợp người thứ ba chưa chấp nhận lợi ích, các bên trong hợp đồng vẫn có tự do thỏa thuận và thực hiện quyền này theo quy định của pháp luật.
Vì người thứ ba chỉ đơn thuần là bên hưởng lợi từ hợp đồng mà không tham gia vào quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba, ngăn chặn tác động có thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ do quyết định của các bên chủ thể trong hợp đồng. Khi người thứ ba chưa chấp nhận lợi ích, các bên sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng không ảnh hưởng đến họ, vì lợi ích của người thứ ba chưa phát sinh trong tình huống này. Do đó, việc sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng không cần phải tuân theo ý chí của người thứ ba.
4. Doanh nghiệp cho nhân viên nghỉ việc không đúng luật thì giải quyết thế nào?
Tại Điều 41 của Bộ Luật Lao động 2019, có các quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương và trái pháp luật như sau:
- Người sử dụng lao động, khi chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương trái pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
+ Nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kết.
+ Trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không tham gia làm việc.
+ Trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động cần hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận từ người sử dụng lao động. Trong trường hợp không còn vị trí, công việc như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, nhưng người lao động vẫn mong muốn tiếp tục làm việc, hai bên có thể thỏa thuận để sửa đổi hoặc bổ sung hợp đồng lao động.
Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước theo khoản 2 của Điều 36, người sử dụng lao động phải thanh toán một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Trong trường hợp người lao động không mong muốn tiếp tục làm việc, ngoài các khoản tiền đã được quy định ở khoản 1, người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ Luật Lao động 2019 để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Nếu người sử dụng lao động không mong muốn tái sử dụng người lao động và người lao động đồng ý, ngoài các khoản tiền đã quy định ở khoản 1 và trợ cấp thôi việc theo quy định của Điều 46, hai bên cũng có thể thỏa thuận một khoản tiền bồi thường, nhưng ít nhất là bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Tóm lại, các quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương và trái pháp luật.
Bài viết liên quan: Chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn, vô thời hạn như thế nào?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!