1. Trách nhiệm của thành viên khi công ty TNHH bị phá sản ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Thứ nhất, về vấn đề bồi thường thiệt hại:
Theo quy định tại Điều 524 Bộ luật Dân sựsố 91/2015/QH13 của Quốc hội về nghĩa vụ của bên vận chuyển như sau:
"Điều 524. Nghĩa vụ của bên vận chuyển
1. Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm, đến đúng giờ, bằng phương tiện đã thỏa thuận một cách an toàn, theo lộ trình; bảo đảm đủ chỗ cho hành khách và không chuyên chở vượt quá trọng tải.
2. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành khách theo quy định của pháp luật.
3. Bảo đảm thời gian xuất phát đã được thông báo hoặc theo thỏa thuận.
4. Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tại địa điểm thỏa thuận theo đúng thời gian, lộ trình.
5. Hoàn trả cho hành khách cước phí vận chuyển theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật".
Giữa Công ty X (bên vận chuyển) và công ty XYZ đã giao kết hợp đồng vận chuyển tài sản. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
Theo quy định trên, có thể xác định lỗi hoàn toàn thuộc về công ty X nên Công ty sẽ phải bồi thường cho công ty XYZ.
Nguyên tắc bồi thường được quy định tại Điều 302 Luật Thương Mại 2005 như sau:
"Điều 302. Bồi thường thiệt hại"1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm."
Như vậy, mức độ bồi thường dựa trên sự thỏa thuận, thương lượng giữa các bên. Những trường hợp do pháp luật quy định và các bên không được phép thương lượng thì phải căn cứ vào các quy định đó để thực hiện việc bồi thường thiệt hại. Thời hạn khiếu nại, thời hiệu khởi kiện và giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển đối với từng loại phương tiện vận chuyển tuân theo quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động vận chuyển của phương tiện đó.
Thứ hai, về vấn đề trách nhiệm thành viên công ty TNHH khi công ty phá sản ?
Quy định tại Điều 46 Luật doanh nghiệp năm 2020 (Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cụ thể như sau:
"Điều 46. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 51, 52 và 53 của Luật này.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần.
4. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được phát hành trái phiếu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; việc phát hành trái phiếu riêng lẻ phải tuân thủ quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Luật này".
Căn cứ vào quy định này thì thành viên của công ty TNHH chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp còn đối với công ty thì sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty đối với các khoản nợ của công ty.
Vì vậy, nếu công ty X bị tuyên bố phá sản thì A và B là thành viên công tyTNHH chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn mà mình đã góp vào doanh nghiệp (A 5 tỷ và B 5 tỷ).
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
2. Sau tuyên bố phá sản có được thành lập doanh nghiệp mới không ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp trực tuyến, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Điều 130 Luật Phá sản năm 2014 có quy định về cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản như sau:
“Điều 130. Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
1. Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
2. Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
3. Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyềnthành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.
4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng”.
Như vậy, sau khi DN bị tuyên bố phá sản, người giữ chức vụ giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của các công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ DN nhà nước nào. Kể cả những người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở DN khác như công ty TNHH, công ty cổ phần... mà DN đó bị tuyên bố phá sản, thì cũng không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ DN nào có vốn của Nhà nước.
Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.
Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ các trường hợp sẽ không áp dụng các quy định trên, đó là trong trường hợp DN bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng.
Vì vậy trừ trường hợp doanh nghiệp của bạn phá sản vì lý do bất khả kháng nếu không trong 03 năm bạn không được thành lập doanh nghiệp mới.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
3. Nên thay đổi cách nhìn về hiện tượng phá sản ?

Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162
Dù có tuyên bố hay không tuyên bố, một khi đã lâm vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, công nợ dày đặc mà không thanh toán được, thì doanh nghiệp đó vẫn phá sản.
Vì sao e ngại phá sản trong doanh nghiệp nhà nước?
Khi một doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ sở hữu có quyền tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản để mọi khoản nợ được ngừng trả, tạo cơ hội ổn định tình hình tài chính, giúp tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp.
Thậm chí Điều 5 Luật phá sản năm 2014 quy định rất rõ là, khi nhận thấy doanh nghiệp của mình lâm vào tình trạng phá sản thì chủ sở hữu có nghĩa vụ tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, nghĩa vụ này thường không được chủ sở hữu thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Lý do mà cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương e ngại tuyên bố phá sản doanh nghiệp của mình thường vì lo ngại sự sụp đổ dây chuyền và thất nghiệp hàng loạt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội. Bên cạnh đó, do bệnh thành tích, các chủ sở hữu lo ngại nếu doanh nghiệp của mình bị coi là phá sản thì danh dự, uy tín bị ảnh hưởng, việc quản lý, điều hành yếu kém bị phơi bày.
Cách thức mà họ lựa chọn là không tuyên bố phá sản, tự mình tái cơ cấu bằng cách cấp vốn bổ sung, hoãn nợ hoặc xóa nợ, phân tách, sáp nhập, cho thuê, khoán… Hàng loạt hành động đó thực chất chính là sự can thiệp hành chính vào việc giải quyết tình trạng “phá sản” của doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.
Cần thay đổi cách nhìn
Phá sản là hiện tượng kinh tế bình thường, khách quan, phát sinh khi các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Phá sản hiện nay không chỉ là việc chấm dứt hoạt động, thu hồi toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và thanh toán cho các chủ nợ theo một thứ tự nhất định. Phá sản còn một khía cạnh đáng lưu ý là, tạo cơ hội cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thỏa thuận với các chủ nợ, tái cấu trúc lại doanh nghiệp và lên kế hoạch trả nợ hợp lý để trở lại hoạt động bình thường.
Luật Phá sản hiện nay không chỉ đặt mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn có mục tiêu bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Khi Luật Phá sản cũ năm 2004 được ban hành, đã xuất hiện các quy định ghi nhận tuyên bố phá sản là thủ tục nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp tự tái tổ chức, phục hồi kinh doanh. Theo đó, từ biện pháp huy động vốn mới, thay đổi mặt hàng kinh doanh, đổi mới công nghệ sản xuất cho đến tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất đều được quy định rõ tại điều 68, Luật Phá sản cũ năm 2004.
Tuyên bố phá sản chỉ là một trong vô số các biện pháp nhằm tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, bởi thế, không nên hiểu sai lệch để rồi né tránh. Chỉ khi nhận thức như vậy, chúng ta mới sử dụng thủ tục tuyên bố phá sản được quy định tại Luật phá sản năm 2014 như một công cụ để cứu vãn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Cần một hệ thống tư pháp đủ mạnh
Khi tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp làm ăn thua lỗ theo thủ tục được quy định tại Luật Phá sản 2004, các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp sẽ được giám sát bởi tòa án và các chủ nợ. Tòa án sẽ tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ được phép chủ động xây dựng phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Khi kế hoạch phục hồi kinh doanh được chủ nợ thông qua dưới sự giám sát của tòa án, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ được khôi phục lại vị trí pháp lý ban đầu, tiếp tục hoạt động bình thường.
Theo Luật phá sản năm 2014 thì tòa án chỉ ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khi đã áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
Các biện pháp phục hồi doanh nghiệp hiệu quả như thế nào phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý tài sản của đội ngũ thẩm phán tại các tòa. Khi thủ tục phá sản được mở, thẩm phán sẽ là người trực tiếp giải quyết việc phá sản của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Từ việc triệu tập, chủ trì, điều hành các cuộc họp của chủ nợ, phê duyệt dự án tái cơ cấu, giám sát thực hiện, định giá tài sản cho đến xác định các tài sản nợ của doanh nghiệp, Luật Phá sản đều quy định đội ngũ thẩm phán phải thực hiện. Bởi thế, ngoài những yêu cầu về trình độ pháp lý, người thẩm phán còn phải có trình độ hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là tài chính – kế toán.
Tái cơ cấu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ cũng giống như một cuộc chữa bệnh của các bác sỹ đối với các bệnh nhân lâm bệnh nặng. Một khi hệ thống tư pháp chưa đủ mạnh để tiến hành chữa bệnh cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thì vẫn còn tình trạng can thiệp hành chính đối với căn bệnh mất khả năng thanh toán trong các doanh nghiệp nhà nước, và tình trạng doanh nghiệp “chết treo” khi mở thủ tục phá sản.
Do đó, bên cạnh việc thay đổi cách nhìn về hiện tượng phá sản để không e ngại với việc tuyên bố phá sản, cần nâng cao trình độ chuyên môn để có một đội ngũ thẩm phán chuyên xử lý các vụ việc phá sản. Khi có niềm tin vào năng lực của tòa án, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sẽ sử dụng trình tự phá sản như một cách thức để phục hồi kinh doanh. Chừng nào cơ hội phục hồi kinh doanh thông qua thủ tục phá sản còn thấp, thì người ta còn e ngại việc tuyên bố phá sản.
(MKLAW FIRM: Biên tập.)
4. Tìm hiểu các quy định mới nhất của luật phá sản ?
Pháp luật về phá sản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ thông qua nhiều quy định khác nhau nhưng thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất là thông qua các quy định về tài sản, nghĩa vụ về tài sản, bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và thông qua tổ chức và hoạt động của hội nghị chủ nợ.
Trên cơ sở thực tiễn năm năm thi hành Luật Phá sản cũ năm 2004, trong chuyên đề này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các quy định của Luật Phá sản cũ năm 2004 về: (1) tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; (2) các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; và (3) hội nghị chủ nợ.

Tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi: 1900.6162
I. TÀI SẢN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
1. Khái niệm tài sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những thuật ngữ pháp lý quan trọng của Luật Phá sản cũ năm 2004.
Thuật ngữ "tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản" thường được gọi tắt là tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Thuật ngữ "nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản" là tài sản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Hai thuật ngữ này thường được gọi chung là tài sản phá sản (hay sản nghiệp) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Như vậy, tài sản phá sản bao gồm cả tài sản có và tài sản nợ, thông thường khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản thường ít hơn tổng số tài sản nợ và tài sản này thường được xác định tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Luật Phá sản cũ năm 2004 tuy không có điều luật quy định riêng về khái niệm tài sản và khái niệm nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Nhưng căn cứ vào những quy định khác nhau của Luật Phá sản cũ năm 2004 chúng ta có thể xác định như sau:
Tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là toàn bộ số tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật có hoặc sẽ có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là toàn bộ các khoản nợ theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ phải thực hiện.
Luật Phá sản cũ năm 2004 chỉ chấp nhận xem xét những khoản nợ được hình thành hợp pháp trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chỉ là những khoản nợ không có bảo đảm. Những khoản nợ có bảo đảm được bảo đảm thanh toán bằng chính những tài sản bảo đảm như cầm cố, thế chấp theo phương thức do các bên thoả thuận và theo đúng quy định pháp luật.
2. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã khi đã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 49 của Luật Phá sản cũ năm 2004, bao gồm:
- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật Phá sản cũ năm 2004 và tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của Bộ luật dân sự cũ năm 2005 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh là các đối tượng phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Đã có ý kiến cho rằng quy định như vậy là không bình đẳng trong quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh. Tuy nhiên, theo chúng tôi quy định này là hợp lý nếu xét dưới góc độ bản chất của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng dưới góc độ chính sách của Luật Phá sản cũ năm 2004 thì quy định này cần được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung lại cho linh hoạt hơn.
3. Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
a. Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Luật Phá sản năm 2004 quy định nguyên tắc chung để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 33 Luật Phá sản cũ năm 2004. Theo đó, nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực chất là nghĩa vụ về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ phải thanh toán, là lý do đưa doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tài sản để làm căn cứ xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự cũ năm 2005 "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản". Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định căn cứ theo quy định tại Điều 33 của Luật Phá sản cũ năm 2004 bao gồm:
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo đảm;
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Xác định nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực chất là xác định tổng các khoản nợ (cả nợ chưa đến hạn và nợ đã đến hạn) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đối với các chủ nợ tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và số lượng các chủ nợ được quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thanh toán.
Về việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Mục 1 Phần III Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản cũ năm 2004 về phần nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đã xác định như sau:
- Tổng các yêu cầu của các chủ nợ đòi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản không có bảo đảm (kể cả đến hạn và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ này được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Tổng các yêu cầu của các chủ nợ có bảo đảm đòi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm (kể cả đến hạn và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ này được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Như vậy, Luật Phá sản cũ năm 2004 chỉ xem xét những khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được hình thành hợp pháp trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và những khoản nợ đó là khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị hủy bỏ.
Đối với những khoản nợ có bảo đảm dưới các hình thức như cầm cố, thế chấp... thì nghĩa vụ về tài sản được xác lập theo các giao dịch bảo đảm không được xác định là nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Bên cạnh việc quy định nguyên tắc chung để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản cũ năm 2004 còn quy định việc xác định nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp khoản nợ không phải là tiền (Điều 38) và nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh (Điều 39) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Theo đó, trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 38 Luật Phá sản cũ năm 2004). Giá trị của nghĩa vụ không phải là tiền có thể là các quyền về sở hữu trí tuệ, mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp, giá trị thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ... các quyền tài sản này đều có thể trị giá ra thành tiền và được coi là tài sản. Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là đơn vị có nghĩa vụ thì giá trị của nghĩa vụ đó được thống kê vào giá trị tài sản phải thanh toán (khoản nợ), của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh thì việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định như sau:
- Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.
- Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.
Như vậy, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản về bản chất là tổng giá trị các khoản nợ cả đến hạn và cả chưa đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán cho các chủ nợ của mình. Tuy nhiên, giá trị khoản nợ hay nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thanh toán được xác định tại thời điểm nào đang là vấn đề còn có ý kiến khác nhau.
Loại ý kiến thứ nhất cũng là loại ý kiến đã được thể hiện tại Điều 33 của Luật Phá sản cũ năm 2004, đó là xác định thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng quy định thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho tất cả các trường hợp là chưa hợp lý. Bởi vì trong một số trường hợp đặc biệt, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn phát sinh sau khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Ví dụ: nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với Nhà nước trong trường hợp Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh (Điều 36 Luật Phá sản cũ năm 2004). Do đó, cần nghiên cứu để sửa đổi quy định tại Điều 36 Luật Phá sản cũ năm 2004 theo hướng, trong những trường hợp đặc biệt, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được xác định tại thời điểm thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
b. Xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Luật Phá sản cũ năm 2004 quy định việc xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong trường hợp đã có quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Mọi trường hợp không có quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì không thể tiến hành xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Luật Phá sản cũ năm 2004 quy định các trường hợp xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như sau: Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn (Điều 34); Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố (Điều 35); Xử lý tài sản của Nhà nước đã được dùng để áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản (Điều 36); Xử lý tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý (Điều 40); Xử lý tài sản đã giao trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 41); Xử lý hàng hóa đã bán (Điều 42); Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản (Điều 37). Cụ thể như sau:
Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn:
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn.
Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố:
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Xử lý tài sản của Nhà nước đã được dùng để áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản:
Doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi thực hiện việc phân chia tài sản theo quy định tại Điều 37 của Luật Phá sản cũ năm 2004.
Xử lý tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý:
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục thanh lý, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý thuê hoặc mượn tài sản để dùng vào hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản để nhận lại tài sản của mình. Trong trường hợp có tranh chấp thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì chủ sở hữu chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán lại số tiền thuê còn thừa do chưa hết thời hạn để Tổ quản lý, thanh lý tài sản nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Trường hợp tài sản thuộc quyền đòi lại đã bị doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý chuyển nhượng cho người khác thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ có bảo đảm.
Xử lý tài sản đã giao trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào đã giao tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đều không được đòi lại nếu việc giao tài sản đó nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Xử lý hàng hóa đã bán:
Người bán đã gửi hàng hoá cho người mua là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng chưa được thanh toán và người mua cũng chưa nhận được hàng hoá thì người bán được nhận lại hàng hoá đó.
Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản:
Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản là một quy định quan trọng của Luật Phá sản năm 2004 vì quy định này ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản được phân ra thành hai trường hợp. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được chia ra thành hai giai đoạn chính.
- Giai đoạn 1: ngay sau khi Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo thứ tự sau đây:
+ Phí phá sản;
+ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
+ Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.
- Giai đoạn 2: nếu giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản ở giai đoạn 1 mà vẫn còn thì phần còn lại này được chia cho các chủ thể sau:
+ Xã viên hợp tác xã;
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân;
+ Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;
+ Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên hoặc được thực hiện theo thứ tự phân chia như trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
4. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về tài sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
a. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 49 Luật Phá sản cũ năm 2004)
Trong quá trình thực hiệc các quy định về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 đã bộc lộ nhiều thiếu sót. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định như sau:
- Việc quy định về tài sản phá sản và cách xử lý đối với tài sản phá sản như tại Điều 49 là chưa hợp lý, chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có được từ thời điểm có Quyết định của Toà án về việc thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản hợp thành một khối thống nhất và duy nhất được gọi là tài sản phá sản. Việc xác định phạm vi của khối tài sản này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quyết định phương hướng giải quyết một vụ việc phá sản cụ thể. Nếu Toà án xác định được rằng, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn hoặc còn nhưng rất không đáng kể thì Toà án có thể tuyên bố ngay họ bị phá sản và chấm dứt vụ việc mà không cần phải tiến hành bất cứ một thủ tục pháp lý nào khác. Do vậy, cần bổ sung thêm quy định Toà án ra quyết định thanh lý tài sản và tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay khi xác định được rằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn hoặc còn nhưng rất không đáng kể. Có như vậy thủ tục tiến hành "khai tử" một doanh nghiệp, hợp tác xã mới có thể tiến hành nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các đương sự, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như cho cả xã hội.
- Bổ sung một số loại tài sản, quyền tài sản vào tài sản phá sản của doanh nghiệp mắc nợ như: Tài sản và quyền tài sản được thu hồi từ các giao dịch không công bằng của doanh nghiệp; Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ các giao dịch vô hiệu của doanh nghiệp; Tài sản và quyền tài sản có được do chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thừa kế; Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày mở thủ tục phá sản.
Theo quy định của Luật Phá sản cũ năm 2004 thì sau khi mở thủ tục phá sản, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn có thể được tiến hành một cách bình thường. Vì vậy, việc doanh nghiệp có thêm tài sản và quyền tài sản sau ngày bắt đầu vụ kiện là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, việc đưa tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có được sau ngày mở thủ tục phá sản vào tài sản phá sản là cần thiết.
- Bổ sung quy định về tài sản phá sản của doanh nghiệp những tài sản như: Tài sản và quyền tài sản do chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh trong trong công ty hợp danh được tặng cho, thừa kế riêng.
- Bổ sung vào Điều 49 Luật Phá sản cũ năm 2004 khoản 3, trong đó quy định về các loại tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá sản. Hiện nay, theo quan điểm nhân đạo, nhiều nước trên thế giới đã cho phép người mắc nợ là cá nhân được giữ lại một số tài sản, chủ yếu là những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày nếu họ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không có hành vi gian lận trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp. Theo thông lệ của các nước thì các tài sản, quyền về tài sản được miễn trừ bao gồm: các đồ vật phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày mang tính chất tối thiểu của người mắc nợ và các khoản trợ cấp cho người mắc nợ do không còn khả năng lao động, do bệnh tật, do mất việc làm; tiền lương hưu, các khoản nhận được từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, các khoản cấp dưỡng sau khi ly hôn, tiền bồi thường do sức khoẻ bị tổn hại do hành vi vi phạm pháp luật của người khác gây ra...
b. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 33 Luật Phá sản cũ năm 2004)
Như trên đã phân tích, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong một số trường hợp đặc biệt vẫn phát sinh sau ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Do đó, cần sửa đổi Điều 33 Luật Phá sản năm 2004 theo hướng thừa nhận các khoản nợ mới phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản. Có nghĩa là nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng phải được xác định là nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Vì khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được áp dụng thủ tục phục hồi sẽ có thể dẫn tới phát sinh các khoản nợ mới. Nếu không quy định nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong qúa trình tiến hành thủ tục phục hồi thì sẽ không có doanh nghiệp nào muốn làm ăn đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
II. CÁC BIỆN PHÁP BẢO TOÀN TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Bảo toàn khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa không chỉ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà còn có ý nghĩa đối với cả chủ nợ và người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Luật Phá sản năm 2004 đã dành Chương IV với 18 điều quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản. Đây là chương mới được quy định với 14 điều được xây dựng mới và 4 điều được sửa đổi, bổ sung so với Luật Phá sản doanh nghiệp cũ năm 1993. Các biện pháp bảo toàn tài sản theo quy định của Luật Phá sản cũ năm 2004 bao gồm: Các giao dịch bị coi là vô hiệu (Điều 43); Quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44); Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 45); Văn bản yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 46); Thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện (Điều 47); Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48); Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 50); Gửi giấy đòi nợ (Điều 51); Lập danh sách chủ nợ (Điều 52); Lập danh sách người mắc nợ (Điều 53); Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 54); Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55); Khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56); Đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án (Điều 57); Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58); Nghĩa vụ của Ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản (Điều 59); Nghĩa vụ của nhân viên và người lao động (Điều 60).
Những nội dung cụ thể về các biện pháp bảo toàn tài sản như sau:
1. Các giao dịch vô hiệu và quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu
a. Các giao dịch vô hiệu
Theo quy định tại Điều 43 Luật Phá sản năm 2004 thì các loại giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bị coi là vô hiệu nếu được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, bao gồm:
- Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;
- Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia;
- Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
- Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;
- Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trong trường hợp các giao dịch nêu trên bị tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu đó phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trong điều kiện bình thường doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền tự quyết định chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các quyết định đó. Doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền quy định tham gia hoặc không tham gia vào quan hệ kinh doanh này hay quan hệ kinh doanh khác mà không một tổ chức, cá nhân nào được quyền can thiệp trái pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì việc can thiệp và cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện một hoặc một số giao dịch nhất định là cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ. Quy định này nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thông qua các giao dịch bất hợp pháp với mục đích tẩu tán tài sản.
Liên quan đến việc cấm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất định, Điều 31 Luật Phá sản năm 2004 cũng có những quy định về các hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm hoặc bị hạn chế như sau :
‘‘1. Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Cất giấu, tẩu tán tài sản;
b) Thanh toán nợ không có bảo đảm;
c) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
d) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp.
2. Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
a) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
b) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
c) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
d) Vay tiền;
đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
e) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã."
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, dấu hiệu biểu hiện là doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và đã có đơn yêu cầu Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì việc can thiệp và cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện một số hoạt động là cần thiết. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ không có giá trị thi hành (vô hiệu) không chỉ khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, mà cả những hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã đã tiến hành trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Luật quy định những giao dịch được tiến hành trong khoảng 3 tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sản.
CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ biên tập
5. Quy định pháp luật Hoa kỳ về thẩm quyền cho công ty phá sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162
Thẩm quyền chung của tòa án liên bang Hoa Kỳ
Nhìn chung thì các Tòa án Liên bang giải quyết các vụ việc có liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ, hiến pháp Hoa Kỳ hay các luật của liên bang, hoặc các vụ kiện giữa các tiểu bang hay giữa Hoa Kỳ với các chính phủ nước ngoài. Một vụ việc được xem là sự cố liên bang có thể được thụ lý ở tòa án liên bang, chẳng hạn như một cá nhân khiếu kiện về vấn đề tiền bạc liên quan đến an sinh xã hội trong một chương trình của chính phủ liên bang; hoặc chính phủ kiện ai đó đã vi phạm luật liên bang, hoặc do những hành động phản đối nào đó của một cơ quan thuộc liên bang.
Vụ việc cũng có thể được tòa án liên bang thụ lý dựa trên “tính đa dạng về quyền công dân” của các nguyên đơn, như giữa công dân của các tiểu bang khác nhau, hay giữa công dân Hoa Kỳ với công dân nước khác. Để bảo đảm sự công bằng cho nguyên đơn ở ngoài tiểu bang, hiến pháp Hoa Kỳ cho tòa án liên bang xem xét vụ việc đó. Giới hạn quan trọng đối với thẩm quyền xét xử vụ việc là chỉ khi nào thiệt hại tiềm năng hơn 75.000 đô- la thì tòa án liên bang mới thụ lý. Dưới mức đó hoặc không liên quan gì với tiền bạc thì sẽ do tòa án tiểu bang giải quyết. Mặc dù các tòa án liên bang có mặt ở khắp các tiểu bang, nhưng các tòa án tiểu bang lại có thẩm quyền với hầu hết các vụ việc khác, như vấn đề ly hôn, cấp dưỡng trẻ em, các vụ hình sự, tranh chấp hợp đồng, hòa giải và di sản thừa kế, bất động sản, vấn đề vị thành niên, vi phạm luật giao thông, gây thương tích cá nhân. Ngoài ra, một số tranh chấp pháp lý khác có thể được giải quyết ở các tòa án đặc biệt hay các cơ chế hành chính liên bang hoặc thuộc ngành tư pháp, thì do các cơ quan hành chính liên bang hoặc tiểu bang tiến hành.
Tuy nhiên đối với vấn đề phá sản, thì Quốc hội xác định đây thuộc về thẩm quyền riêng của các tòa án liên bang; có nghĩa là một vụ phá sản không thể được thụ lý bởi tòa án tiểu bang. Chúng ta thử tưởng tượng trong hoàn cảnh hàng triệu người thất nghiệp do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, ở Hoa Kỳ hẳn phải có hàng chục ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ phá sản hay giải thể, và sự bận rộn của các tòa án liên bang Hoa Kỳ sẽ biết dường nào. Nhưng cấu trúc hợp lý của hệ thống tòa án của Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho ngành tư pháp của họ hoạt động hữu hiệu. Thông qua thủ tục phá sản, các cá nhân hay doanh nghiệp không có khả năng chi trả cho chủ nợ có thể tìm ra cơ hội thanh lý tài sản của mình hay họ có thể tổ chức lại hoạt động tài chính và thực hiện kế hoạch trả hết các khoản nợ của mình.
Sơ lược cấu trúc của hệ thống Tòa án Liên bang Hoa Kỳ
Để thực hiện thẩm quyền xét xử của mình, hệ thống tòa án liên bang Hoa Kỳ đã được Quốc hội thiết lập thành hai cấp tòa án liên bang đặt dưới Tòa án Tối cao, gồm các tòa án sơ thẩm (xem xét hầu như tất cả vụ việc liên bang cả về dân sự lẫn hình sự) và các tòa án phúc thẩm. Hoa Kỳ có 94 hạt tư pháp (judicial district) thuộc liên bang, ít nhất mỗi tiểu bang là một hạt tư pháp và riêng một hạt cho Columbia và Puerto Rico. Mỗi hạt đều có một tòa phá sản, là một đơn vị thuộc tòa án sơ thẩm liên bang của hạt. Riêng ba vùng lãnh thổ Virgin Islands, Guam, và quần đảo Bắc Mariana có các tòa án của hạt để xem xét các vụ việc về liên bang, bao gồm phá sản.
94 hạt tư pháp được chia thành 12 vùng kinh lý (regional circuit), mỗi vùng có một tòa án phúc thẩm. Tòa án phúc thẩm xem xét các kháng cáo từ các tòa án của hạt trong vùng cũng như các kháng cáo từ các quyết định của các cơ quan hành chính liên bang. Ngoài ra, tòa án phúc thẩm của vùng còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm mang tính toàn quốc đối với các vụ việc đặc biệt liên quan luật sáng chế (patent laws) và các vụ việc đã được quyết định bởi Tòa Thương mại Quốc tế và Tòa Khiếu kiện liên bang (US Court of Federal Claims), cũng là hai loại tòa án sơ thẩm.
Thủ tục tố tụng đối với các vụ án phá sản
Mục đích cơ bản của Luật Phá sản Hoa Kỳ (LPSHK) là cho con nợ lương thiện một cơ hội làm lại từ đầu bằng cách làm nhẹ gánh nặng cho con nợ đối với hầu hết các khoản nợ, và giúp họ tuần tự trả cho các chủ nợ bằng tài sản có sẵn cho việc chi trả.
Thường thì một vụ án phá sản bắt đầu bằng việc con nợ nộp đơn ở tòa phá sản. Đơn do một cá nhân, một đôi vợ chồng, một công ty, hay một cơ quan nộp ở tòa. Đơn yêu cầu có sẵn ở văn phòng thư ký các tòa phá sản hay ở các cửa hiệu văn phòng phẩm. Có một loạt các phí nộp đơn cho vụ phá sản, tùy thuộc vào chương nào của luật phá sản mà đơn đề nghị. Phổ biến nhất là nộp đơn cá nhân (Chương 7, LPSHK) để xin thanh lý toàn bộ tài sản của con nợ, cũng như việc thanh toán hầu hết các khoản nợ, thì mức phí nộp đơn cho trường hợp này là 175 đô-la.
Tòa sẽ yêu cầu con nợ nộp bảng cân đối tài chính, liệt kê tài sản, thu nhập, chứng từ có giá, tên và địa chỉ của tất cả chủ nợ với khoản nợ kèm theo. Làm thế này sẽ ngăn chặn việc xiết nợ, các chủ nợ không thể kiện cáo, đòi lương, hay ngay cả gọi điện thoại đòi tiền. Thư ký tòa án sẽ gởi thư báo cho các chủ nợ cho biết là con nợ đã nộp đơn ở tòa phá sản. Ở một số vụ phá sản con nợ được phép tổ chức lại sản xuất kinh doanh và lập kế hoạch trả nợ, trong khi một số vụ thì giải quyết việc thanh lý tài sản của con nợ. Có nhiều vụ phá sản mà bất động sản của con nợ không đủ trả cho các chủ nợ, mà chỉ đủ để thanh lý tài sản cho khách tiêu dùng cá nhân. Kết quả là ít xảy ra bất đồng hay tranh chấp, và con nợ thường được giúp thoát khỏi hầu hết các khoản nợ mà không gặp phải sự đối kháng. Điều này cũng đồng nghĩa rằng con nợ không còn uy tín cá nhân để trả nợ.
Tuy nhiên, trong các vụ án phá sản khác thì các tranh chấp về yêu cầu nổi lên ở tòa phá sản khi con nợ có tài sản, sử dụng tài sản đó thế nào, giá trị tài sản đó bao nhiêu để trả cho một khoản nợ, liệu con nợ có thoát khỏi một số khoản nợ nào không, hay phải trả bao nhiêu tiền cho luật sư, kế toán, kiểm toán, hoặc các nhà chuyên môn khác. Sẽ có nhiều cách khác nhau như điều tra khám phá, tiền tố tụng, dàn xếp hòa giải, và xét xử sơ thẩm như trong tố tụng dân sự để giải quyết vụ án phá sản.
Năm dạng vụ việc ở tòa phá sản
- Thanh lý tài sản (Điều 7, LPSHK): Một ban quản lý sẽ được chỉ định để trông coi tài sản của con nợ vì lợi ích của các chủ nợ. Tuy nhiên con nợ được phép giữ lại một số tài sản ngoại lệ có giới hạn theo luật, còn lại phần lớn được ban quản lý bán đi để phân cho các chủ nợ theo thủ tục mà luật phá sản quy định.
- Điều chỉnh nợ cá nhân (Điều 13, LPSHK): Con nợ được phép giữ lại tài sản của mình, nhưng phải trả lại cho chủ nợ làm nhiều lần từ các thu nhập tương lai của mình. Tòa yêu cầu con nợ trình duyệt kế hoạch về cách thức và thời gian thanh toán nợ. Một ban quản lý được chỉ định, và một phần thu nhập của con nợ được trả cho ban quản lý để trả cho chủ nợ.
- Tổ chức lại sản xuất kinh doanh (Điều 11, LPSHK): Cơ hội sản xuất kinh doanh được đưa ra để doanh nghiệp tổ chức lại nhằm giải quyết vấn đề tài chính. Con nợ được phép tiếp tục hoạt động dưới sự giám sát của tòa án.
- Điều chỉnh nợ của hộ nông dân (Điều 12, LPSHK): Tương tự như việc điều chỉnh nợ cá nhân, ngoại trừ một số đặc điểm chỉ có ở gia đình nông dân.
- Điều chỉnh nợ của vùng đô thị (Điều 9, LPSHK): Quy định cho đơn vị hành chính như thành phố, thị trấn, hay quận, cơ quan công quyền, hay thiết chế khác của tiểu bang.
Ở hầu hết các tòa phá sản, kháng cáo lại quyết định của thẩm phán có thể được trình lên tòa án hạt. Tuy nhiên, một số tòa án phúc thẩm đã lập Hội đồng phúc thẩm phá sản bao gồm 3 thẩm phán để xem xét kháng cáo. Như thế, bên thua thiệt có thể gởi kháng cáo lên tòa án phúc thẩm. Luật sư kháng cáo và Hội đồng thẩm phán sẽ tranh luận tập trung vào các nguyên tắc pháp lý trong tranh chấp, mỗi bên có khoảng 15 phút để trình bày quan điểm. Quyết định của tòa án phúc thẩm thường là phán quyết cuối cùng, trừ phi tòa gởi ngược vụ án về tòa án sơ thẩm để điều tra bổ sung, hay các bên yêu cầu Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại vụ án. Trong một số vụ án, quyết định của tòa án có thể được xem xét lại toàn bộ bởi một nhóm lớn các thẩm phán (thường là tất cả các thẩm phán của Tòa án phúc thẩm vùng).
Hầu hết các tòa án liên bang có hệ thống truy xuất thông tin tự động đặt ở ngay quầy công chúng ở tòa án. Các tòa phá sản và tòa phúc thẩm cũng có hệ thống thông tin điện thoại để giải đáp cho người gọi đến theo dõi tiến độ vụ án. Thư ký tòa án trả lời miễn phí mọi yêu cầu theo dõi tiến độ; riêng việc tìm kiếm và truy xuất thông tin tòa án, sao chép tài liệu thì có thu phí. Trang chủ của ngành tư pháp liên bang www.uscourt.gov có những kết nối đến các website từng tòa án, cũng như một danh mục dịch vụ truy cập điện tử giúp cho việc thông tin cập nhật.
Luật Minh Khuê (biên tập)