1. Khái niệm xóa án tích và ý nghĩa

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, những người bị kết án vì hành vi phạm tội sẽ phải chấp hành hình phạt tù giam hoặc các hình thức xử lý khác. Sau khi hoàn thành xong thời gian thi hành án và trải qua một khoảng thời gian thử thách nhất định, những người này có quyền được xóa án tích. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 69 của Bộ luật Hình sự, việc xóa án tích có nghĩa là những người này sẽ được xem như chưa từng bị kết án. Điều này không chỉ giúp họ có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn, mà còn bảo vệ quyền lợi cá nhân của họ, giúp họ xây dựng lại cuộc sống và phát triển bản thân mà không bị ràng buộc bởi quá khứ. Xóa án tích chính là một bước quan trọng trong việc khôi phục danh dự và tạo điều kiện cho những người đã từng phạm tội có thể làm lại cuộc đời.

Như vậy, việc xóa án tích là một quá trình quan trọng đối với những người đã từng phạm tội. Sau khi hoàn thành các hình phạt và quyết định của bản án mà Tòa án đã tuyên, họ sẽ phải trải qua một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Khi hết thời gian này, người phạm tội sẽ được xóa án tích, có nghĩa là họ sẽ được coi là chưa từng phạm tội. Đây là một cơ hội để họ khôi phục danh dự và hòa nhập trở lại với cộng đồng. Việc xóa án tích không chỉ giúp cho người bị kết án có thể bắt đầu lại cuộc sống mà còn tạo điều kiện cho họ được tham gia vào các hoạt động xã hội, tìm kiếm việc làm và xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn góp phần tích cực vào việc giảm thiểu tỷ lệ tái phạm tội trong xã hội.

 

2. Điều kiện để được xóa án tích

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có năm trường hợp cụ thể mà người bị kết án sẽ không bị coi là có án tích. Đầu tiên, đó là những người bị kết án do lỗi vô ý đối với các tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Trường hợp thứ hai là những người được miễn hình phạt, nghĩa là họ không phải chấp hành hình phạt nào, do đó không có án tích. Thứ ba, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án sẽ không bị xem là có án tích, bất kể tội danh của họ.

Ngoài ra, những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do lỗi vô ý cũng không bị coi là có án tích. Cuối cùng, những người dưới 18 tuổi phạm tội mà được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cũng nằm trong danh sách này. Những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân còn trẻ tuổi, giúp họ có cơ hội sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập vào cộng đồng mà không bị ảnh hưởng bởi quá khứ.

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định ba trường hợp xóa án tích, bao gồm: đương nhiên được xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt.

Đối với trường hợp đương nhiên được xóa án tích, theo Điều 70, những người bị kết án không thuộc các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI, khi đã hoàn thành hình phạt chính và thời gian thử thách, có thể được xóa án tích. Cụ thể, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt, họ không tái phạm trong thời gian quy định - 01 năm đối với án cảnh cáo, phạt tiền hay án treo; 02 năm với hình phạt tù đến 5 năm; 03 năm với hình phạt tù từ 5 đến 15 năm; và 05 năm đối với hình phạt tù trên 15 năm, thì họ sẽ được xóa án tích. Nếu người đó đang chấp hành hình phạt bổ sung dài hơn thời hạn quy định, thời gian xóa án tích sẽ kết thúc khi họ hoàn thành hình phạt bổ sung.

Về xóa án tích theo quyết định của Tòa án, Điều 71 quy định rằng các cá nhân bị kết án về các tội nêu trong Chương XIII và Chương XXVI có thể được xóa án tích nếu đã hoàn thành hình phạt chính, thời gian thử thách, và không có hành vi phạm tội mới trong khoảng thời gian từ 3 đến 7 năm, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất tội phạm, thái độ chấp hành pháp luật và lao động của người bị kết án để ra quyết định xóa án tích. Nếu đơn xin xóa án tích bị từ chối, người đó cần chờ từ 1 đến 2 năm để có thể nộp đơn lại.

Cuối cùng, trường hợp xóa án tích trong trường hợp đặc biệt áp dụng cho những người đã có sự tiến bộ rõ rệt và lập công, nếu được cơ quan, tổ chức đề nghị. Tòa án có thể quyết định xóa án tích cho họ nếu họ đã đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn theo quy định. Đặc biệt, đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, họ sẽ được coi là không có án tích nếu thuộc các trường hợp nhất định, như từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, hoặc từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng bị kết án do vô ý. Những quy định này nhằm tạo điều kiện cho những người đã phạm tội có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và khôi phục cuộc sống của mình.

 

3. Mối quan hệ giữa việc xóa án tích và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015, có những trường hợp cụ thể mà người bị kết án được đương nhiên xóa án tích. Điều này có nghĩa là sau khi hoàn thành hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó sẽ được xem như chưa bị kết án, nếu họ đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung, cũng như các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian quy định. Cụ thể, thời gian quy định để được xóa án tích sẽ khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của hình phạt. Đối với những người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo, thời gian cần thiết để được xóa án tích là 01 năm. Nếu người bị phạt tù từ 1 đến 5 năm, thời gian này là 02 năm; từ 5 đến 15 năm là 03 năm; và đối với những người bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án, thời gian là 05 năm.

Đặc biệt, nếu người bị kết án đang chấp hành các hình phạt bổ sung như quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định trong các trường hợp trước đó, thì thời hạn đương nhiên xóa án tích sẽ tính từ thời điểm họ hoàn thành xong hình phạt bổ sung. Điều này nhằm bảo đảm rằng người đã từng phạm tội có thể được tái hòa nhập cộng đồng một cách công bằng và có cơ hội làm lại cuộc đời.

Theo quy định tại Mục 2 Công văn 154B/TANDTC-PC năm 2023, Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ khái niệm “các quyết định khác của bản án” được quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Cụ thể, nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Bình Dương đã đề xuất Tòa án nhân dân tối cao làm rõ khái niệm này. Tòa án nhân dân tối cao đã đáp ứng kiến nghị bằng cách giải thích rằng “các quyết định khác của bản án” bao gồm những quyết định liên quan đến các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cũng như các vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự, như án phí, xử lý vật chứng, tài sản bị kê biên, và tài khoản bị phong tỏa. Những quyết định này đều được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo sự rõ ràng và minh bạch trong quy trình pháp lý.

Hơn nữa, Tòa án nhân dân tối cao cam kết sẽ tiếp tục nghiên cứu và tổng kết thực tiễn xét xử để có thể ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự nếu thấy cần thiết. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu quả công tác xét xử mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các vụ án hình sự, đồng thời nâng cao tính công bằng và minh bạch trong hoạt động tư pháp.

Theo quy định, nếu một người đã chấp hành xong án phạt tù nhưng vẫn chưa thực hiện các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc trách nhiệm dân sự, chẳng hạn như bồi thường tiền hoặc trách nhiệm cấp dưỡng, thì họ sẽ không được coi là đã hoàn thành tất cả các quyết định khác của bản án. Điều này có nghĩa là mặc dù người đó đã hoàn thành thời gian thụ án, nhưng việc chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường vẫn là rào cản đối với việc xóa án tích. Việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ các quyết định của bản án trong hệ thống pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và đảm bảo công lý được thực thi một cách toàn diện. Do đó, việc xóa án tích không chỉ phụ thuộc vào việc chấp hành hình phạt chính mà còn liên quan đến việc hoàn thành các trách nhiệm dân sự, điều này khẳng định rằng một người chỉ có thể được xóa án tích khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý liên quan.

Xem thêm bài viết: 

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email để được tư vấn.