Xây tiếp phần trên tầng lầu thì phát hiện nhà bên cạnh nghiêng lấn sang nhà tôi 13-15 phân, nhưng do nghỉ hàng xóm với nhau nên quyết định thi công tiếp không lập biên bản yêu cầu trả lại diện tích lấn sang nhà tôi, nhưng cũng có nói cho nhà bên biết sự việc trên, đến nay là đã gần 1 năm nhà bên làm đơn kiện do nhà tôi xây nhà đóng cọc cừ nên làm ảnh hưởng làm nhà bên bị nứt rạn. (được biết nhà bên cạnh nhà tôi mua lại nhà của một chủ khác bán) kính mong luật sư tư vấn cho tôi nên làm gì trong trường hợp này. xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

 

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý: 

Luật Đất đai năm 2013

Bộ luật Dân sự năm 2015

II. Luật sư tư vấn:

>> Xem thêm:  Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ? Bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn

1. Việc nhà hàng xóm xây lấn sang diện tích nhà:

Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc sử dụng đất: "Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh."

khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 quy định những hành vi bị nghiêm cấm: "Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai."

Theo bạn cung cấp thông tin, khi bạn xây nhà phần dưới có phát hiện nhà bên cạnh bị nghiêng lấn sang phần đất nhà bạn 5 phân, xây tiếp phần trên tầng lầu thì phát hiện nhà bên cạnh nghiêng lấn sang nhà bạn 13-15 phân. Do đó, nếu bạn có căn cứ chứng minh việc lấn chiếm của nhà hàng xóm đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn thì nhà hàng xóm vi phạm quy định của pháp luật đất đai do đã lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn. Vì vậy, bạn nên thỏa thuận với nhà hàng xóm. Nếu hai bên thỏa thuận không thành thì bạn gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hòa giải. Nếu hòa giải không thành thì thực hiện theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013: "Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

2. Việc nhà hàng xóm bị nứt:

Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này." 

Nhà hàng xóm bị nứt nhà được xác định là tài sản của nhà hàng xóm bị thiệt hại. Gia đình bạn chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu gia đình bạn có lỗi trong việc làm nứt nhà hàng xóm.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút;

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại;

4. Thiệt hại khác do luật quy định."

Do chưa xác định được nguyên nhân gây nứt nhà hàng xóm nên nếu nhà hàng xóm bị nứt không do lỗi của gia đình bạn, việc gia đình bạn xây nhà không làm nứt nhà hàng xóm thì bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu nhà hàng xóm bị nứt hoàn toàn do lỗi của gia đình bạn thì gia đình bạn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do đã làm nứt nhà hàng xóm. Mức bồi thường bao gồm chi phí để phục hồi, sửa chữa lại phần nhà đã bị nứt. Nếu việc nứt nhà vừa do lỗi của gia đình bạn, vừa do bản thân ngôi nhà đã bị xuống cấp nên rạn nứt thì gia đình bạn chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với phần thiệt hại tương đương với mức độ lỗi của mình. 

Nhà hàng xóm làm đơn kiện gia đình bạn làm nứt nhà họ nên bạn nên thỏa thuận lại với họ, xác định rõ lỗi do ai và thực hiện như trên. Nếu nhà hàng xóm nhất định không chịu thỏa thuận mà vẫn làm đơn kiện thì gia đình bạn khi ra Tòa phải chứng minh được mình không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường, nếu không thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như đã tư vấn ở trên. 

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật tư vấn pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi nhà xe làm mất hành lý của khách hàng ?