"Giờ tôi mới về quê sinh sống chưa được ổn định, để công việc ổn định tôi thu xếp gửi tiền lên trả. 2 tháng nay tôi chưa có tiền trả, người ta điện thoại nói sẽ kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thưa luật sư xin cho tôi hỏi người này kiện tôi đúng hay sai? Văn bản nào quy định điều này? Tôi xin cảm ơn luật sư".

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm2017

Bộ luật dân sự số: 91/2015/QH13

Nội dung phân tích:

Theo thông tin bạn cung cấp: Bạn vay mượn tiền của người ta là 100 triệu đồng. Đến mỗi tháng, bạn đều đóng tiền lãi đầy đủ tính tới bây giờ là được 6 năm bạn trả tiền lãi. Hiện bây giờ bạn làm ăn thất bại, bạn cảm thấy ở tại địa phương bạn đang ở không buôn bán được nữa không đủ điều kiện xoay sở trả đóng tiền lãi, bạn đã bỏ đi về quê. Trước khi đi, bạn có nói với người cho bạn vay tiền, bạn mới về quê sinh sống chưa được ổn định, để công việc ổn định bạn sẽ thu xếp gởi tiền lên trả. 2 tháng nay bạn chưa có tiền trả, người ta điện thoại nói sẽ kiện bạn tội lừa, đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

- Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) (Được bãi bỏ )

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b)(Được bãi bỏ )

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Được bãi bỏ

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Vậy, xét thấy bạn không hề có hành vi gian dối vì ngay từ đầu, bạn không hề dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền, không cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật để người cho vay tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. Bạn đã trả tiền lãi mỗi tháng cho người cho vay đều đặn trong 6 năm. Sau đó, bạn cũng đã có thông báo với người cho vay khi không có khả năng trả lãi và xin đợi đến khi thu xếp công việc ổn định sẽ trả. Như vậy, theo như bạn cung cấp thông tin, bạn vẫn hợp tác với người cho vay trong quá trình trả nợ nhưng hiện tại bạn không có khả năng chi trả. Vậy việc người cho vay tố cáo hay kiện bạn về "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" là không đủ căn cứ.

Tuy nhiên, bạn cần cố gắng để trả nợ cho chủ nợ. Trường hợp bạn đến hạn mà bạn không trả hết nợ thì chủ nợ có quyền khởi kiện bạn ra Tòa án để yêu cầu trả nợ. Nhưng đây chỉ là vụ việc dân sự mà không phải là vụ án hình sự vì theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, giữa bạn và người cho vay đã giao kết một hợp đồng vay tài sản nên bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo

Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự​.