Khách hàng: Thưa Luật sư Minh khuê, cây cối là gì? Cây cối mang những đặc điểm như thế nào? Hiện nay có cơ sở pháp lý nào đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra không? Quy định các nước trên thế giới và Việt nam có giống nhau?
Cảm ơn!
1. Khái niệm cây cối
Trong khoa học pháp lý hiện nay không xuất hiện khái niệm “cây cối”. Theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay cũng không có một định nghĩa hay khái niệm cụ thể nào về "cây cối".
Tuy nhiên, dưới góc độ ngôn ngữ, theo trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (1998), Đại Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội (trang 291), cây cối được hiểu là “cây nói chung”.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, cây cối là một trong các loài “thực vật có thân, lá nói chung”.
Trên thực tế, các vụ việc cây cối gây thiệt hại xảy thường là những loại cây thân gỗ, những loại cây cối này gây thiệt hại do bị đổ, gẫy là chủ yếu. Tuy nhiên, những loại cây thân cỏ nhưng cũng có thể gây thiệt hại do có chứa các chất gây ảnh hưởng cho sức khỏe của con người và động vật.
Trên trang khoahoc.tv có đăng tải bài viết “Hàng loạt cây cảnh chứa chất độc chết người” vào ngày 27 tháng 10 năm 2015, trong đó Hệt kê danh sách 28 loại cây cảnh có chứa chất độc có thể gây chết người như trúc đào, thơm ổi, đỗ quyên, thiên điểu,...
Theo Tiến sĩ sinh học Bùi Vãn Lệ, Trường Đại học Khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh cảnh báo rằng: “Tốt nhất, các bố mẹ, ông bà, người trông trẻ nên cẩn thận, tuyệt đổi không đế các bé nghịch, cầm hay cho bất cứ loại lả cây nào vào miệng. Hom thế, bẻ có thể nghịch đất trồng trong chậu rất bẩn, dễ nhiễm giun sản. Những loại hoa cây cảnh không chỉ độc với bẻ mà còn độc với cả người lớn.”
Những loại cây được liệt kê ở trên đều là các loại cây thân cỏ, không thể gây thiệt hại do đổ hoặc gẫy nhưng lại có thể gây thiệt hại bằng các chất độc có trong thân, lá, hoa mà nếu con người hoặc động tiếp xúc với chúng. Qua những dẫn chứng này thấy rằng, bất cứ loại cây cối nào (cây thân gỗ, cây thân cỏ) cũng có khả năng gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh.
Do đó, thuật ngữ “cây cối” trong Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 phải được hiểu là bất cứ loại cây nào nói chung nó tự gây ra thiệt hại.
2. Đặc điểm cây cối
a. Cây cối là loại tài sản bất động
Thực tế cho thấy, cây cối hầu như chỉ tồn tại và phát triển được ở môi trường đất. Tuy nhiên, không phải loại cây nào cũng được trồng trực tiếp trên đất, mà có những loại cây cảnh nhỏ lại được ữồng trong các chậu, bình, hộp,... khác nhau.
Đây là đặc điểm quan trọng để có thể xác định cây cối là bất động sản hay động sản.
"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
"Điều 107. Bất động sản và động sản
1. Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản."
Như vậy, hầu hết các loại cây cối đều được coi là bất động sản. Việc nghiên cứu loại cây nào là bất động sản, loại cây nào là động sản không có vai trò trong việc xác định các trạng thái gây thiệt hại của cây cối, mà nó khẳng định rằng cây cối là một loại tài sản bất động giống như nhà cửa.
b. Cây cối là loại tài sản có thể do con người trồng hoặc tự sinh sôi, phát triển trong môi trường tự nhiên
Đặc điểm này cho thấy, cây cối giống với động vật, vì động vật cũng có thể do con người nuôi dưỡng hoặc sinh sôi, phát triển trong môi trường tự nhiên. Điều này ảnh hưởng đến việc xác định chủ sở hữu của cây cối, qua đó cũng ảnh hưởng đến việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.
c. Đa số các trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra đều xuất phát từ lỗi của chủ thể có trách nhiệm
Thực tế, cho thấy, cây cối chủ yếu gây thiệt hại khi bị đổ, gẫy. Tuy nhiên, việc quản lý tốt hay không tốt của chủ sở hữu và chủ thể có liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến việc cây cối có đổ, gẫy hay không. Hầu hết các trường hợp cây cối có nguy cơ gây ra thiệt hại đều có thể khắc phục được nếu chủ sở hữu, chủ thể khác tuân thủ quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụ của mình.
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 có các quy định liên quan đến việc hạn chế thiệt hại do cây cối gây ra (Hoặc theo Bộ luật dân sự trước đây tại khoản 2 Điều 175 đã quy định: “nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá”;
Tại khoản 1 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
"Điều 177. Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại
1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu."
Như vậy, trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu không xảy ra sự kiện bất khả kháng, thì khi cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại, chủ sở hữu hoặc chủ thể khác bị suy đoán là có lỗi.
d. Hầu như các loại cây cối đều có phạm vi gây thiệt hại hẹp
Điều này được lý giải bởi cây cối là loại tài sản không tự dịch chuyển vị trí. Hầu như cây cối thì phát triển cố định tại vị trí mọc tự nhiên hoặc vị trí mà con người xác định khi trồng loại cây đó. Do đó, cây cối chỉ có thể đổ, gẫy và gây ra thiệt hại tại vị trí cây cối đó tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, thực tế cũng có một số loại cây có thể phát ra các chất hoặc mùi lẫn vào không khí và di chuyển với một không gian rộng hơn, nên có không gian gây thiệt hại lớn hơn.
3. Cơ sở pháp lý đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
- Trong Bộ luật dân sự trước đât, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra được quy định tại Điều 626. Theo Điều luật này, khi cây cối “đổ, gẫy” gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này cho thấy, điều luật chỉ được áp dụng để giải quyết các trường hợp cây thân gỗ gây thiệt hại. Đối với các trường hợp những loại cây thân cỏ gây thiệt hại như đã phân tích trong phần khái niệm ở trên, cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại cũng là Điều 626. Tuy nhiên, quy định tại Điều 626 không được áp dụng trực tiếp mà phải áp dụng gián tiếp thông qua quy định có liên quan đến áp dụng tương tự pháp luật tại Điều 3 của Bộ luật.
- Quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra trong Bộ luật dân sự năm 2015 được kế thừa nhưng có những sửa đổi so với Bộ luật trước đó. Tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."
Theo quy định này, nếu cây cối gây thiệt hại (bất kể do đổ, gẫy, cháy, độc tố phát ra, hoặc do bất cứ nguyên nhân nào) mà đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cơ sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015.
Có thể nói đây là sự thay đổi mang tính đột phá của quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.
Quy định này của Bộ luật sẽ bao quát được toàn bộ các trường hợp bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, giúp cho tòa án có cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh trên thực tiễn.
4. Quy định nước Pháp về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
Trên thế giới mỗi quốc gia có quy định khác nhau liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Điều đó cũng cho thấy, cơ sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra ở mỗi quốc gia là khác nhau.
Theo Bộ luật Dân sự Pháp không xây dựng quy định độc lập về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, mà trường hợp này được áp dụng chung trong quy định tại Điều 1384 .
Theo đó, “mỗi người phải chịu trách nhiệm không những về thiệt hại do mình gây ra mà cả thiệt hại do những người mà mình phải chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ gây ra”.
Đây là quy định mang tính nguyên tắc, áp dụng cho cả trường hợp thiệt hại do hành vi gây ra và thiệt hại do tài sản (vật) gây ra. Ngoài ra, liên quan đến trường hợp cây cối gây thiệt hại, ngoài quy định chung tại Điều 1384, Bộ luật Dân sự Pháp còn có quy định cụ thể trong Luật ngày 07 tháng 11 năm 1922 như sau:
“Tuy nhiên, với bất cứ danh nghĩa nào, người giữ toàn bộ hoặc một phần bất động sản hoặc những động sản mà trong đó xảy ra hỏa hoạn chỉ phải chịu trách nhiệm đối với người thứ ba về những thiệt hại do hỏa hoạn gây ra, nếu chứng minh được lỗi của họ hoặc lỗi của những người mà họ trách nhiệm”.
Việc quy định mang tính nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với quan điểm lập pháp của Pháp trong các quy định về tài sản. Theo quy định tại Điều 521 Bộ luật Dân sự Pháp, cây cối dù nhỏ hay to thì khi chưa bị chặt hạ đều được coi là bất động sản.
Cụ thể tại Điều 521 Bộ luật Dân sự Pháp quy định:
“Việc đốn, chặt bình thường ở những bãi cây nhỏ hoặc đốn chặt dần dần ở những rừng cây to thì cây chỉ trở thành động sản khi được chặt xuống.”
Như vậy, cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo Bộ luật Dân sự Pháp cũng là các quy định mang tính nguyên tắc, giống như quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015.
5. Quy định của Nhật Bản và Thái Lan về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
a. Bộ luật Dân sự Nhật Bản
Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra được lồng ghép với quy định về bồi thường thiệt hại do cấu trúc trên đất (công trình xây dựng) gây ra tại Điều 717 Bộ luật Dân sự Nhật Bản chứ không có quy định độc lập như trong Bộ luật Dân sự Việt Nam.
Theo Điều 717 Bộ luật Dân sự Nhật Bản được kết cấu làm ba đoạn, trong đó:
- Đoạn một quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người chiếm hữu do cấu trúc trên đất gây ra;
- Đoạn hai quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra;
- Đoạn ba quy định về bồi thường thiệt hại khi người thứ ba có lỗi trong việc cấu trúc, cây cối gây thiệt hại.
Liên quan đến trường hợp cây cối gây thiệt hại, đoạn hai Điều 717 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định:
“Các quy định của phần trên sẽ được áp dụng với sự sửa đổi cần thiết trong những trường họp khi có các sai sót tồn tại trong việc trồng và bảo quản tre và cây cối”.
Như vậy, trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cấu trúc trên đất gây ra và do cây cối gây ra có cùng một cơ sở pháp lý như nhau.
b. Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan
Trong Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan, quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra cũng tương tự như trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản.
Theo Điều 434 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan, cơ sở pháp lý đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra cũng chính là cơ sở pháp lý đối với bồi thường thiệt hại do ngôi nhà hoặc kiến trúc khác gây ra.
Như vậy, cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo pháp luật Nhật Bản và pháp luật Thái Lan đều không có sự tách biệt.
Về bản chất các công trình xây dựng và cây cối đều là những tài sản gắn liền với đất đai, có thể theo quan điểm lập pháp của hai quốc gia này, đây đều là những loại bất động sản, nên cơ sở pháp lý áp dụng khi hai loại tài sản này gây thiệt hại cũng tương tự nhau.
Ở Việt Nam, nhà cửa và công trình xây dựng khác là bất động sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107, nhưng không phải loại cây cối nào cũng là bất động sản (có những loại cây cảnh trồng trong chậu). Do vậy, xây dựng quy định về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra tách biệt với quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra là hoàn toàn phù hợp với nhận thức cũng như quan điểm lập pháp hiện hành. Những phân tích này cho thấy, việc quy định riêng hay lồng ghép vấn đề bồi thường thiệt hại do hai loại tài sản này gây ra hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia ở từng thời kì khác nhau.