1. Có thể kiện chồng và bồ về tội ngoại tình không ?

Chào luật sư, tôi mong luật sư giúp đỡ. Hai vợ chồng tôi kết hôn được 10 năm và có với nhau được 2 đứa con. Mấy tháng gần đây, tôi có phát hiện chồng có hành vi ngoại tình với một người phụ nữ làm cùng cơ quan. Chúng tôi đã từng cãi nhau vì chuyện này, anh cũng xin tôi tha thứ và hứa sẽ chấm dứt mối quan hệ này. Tuy nhiên, anh vẫn thói nào tật nấy, chấm dứt với người này anh lại ngoại tình với người khác, lần này là người làm cùng cơ quan tôi.
Vậy hành vi của chồng tôi cùng người kia có bị xử lý không? và bây giờ tôi muốn ly hôn thì tôi có được giành quyền nuôi cả hai người con không ?
Xin Cảm ơn!

Có thể kiện chồng và bồ về tội ngoại tình không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Quan hệ hôn nhân được xác lập và được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó hành vi:

"Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ."

Đây là một trong những hành vi bị cấm, mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình đều bị xử lý nghiêm minh và đúng pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định, người có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Khi chồng bạn là người đang có vợ mà có hành vi kết hôn/chung sống như vợ chồng với người khác và người người phụ nữ kia là người là người chưa có chồng hoặc đang có chồng có hành vi kết hôn/chung sống như vợ chồng với người khác mà biết rõ người đó đang có vợ thì cả hai đều bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt trên. Bên cạnh đó, nếu hai người đó là đảng viên thì theo quy định 102-QĐ/TW năm 2017 thì hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng.

Ngoài bị xử phạt vi phạm về hành chính, đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 có quy định:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Do đó, để có thể xử phạt đối với hành vi của chồng bạn và người phụ nữ kia, bạn cần chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ chứng minh 2 người đó có hành vi sống chung như vợ chồng hoặc kết hôn với nhau. Khi đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết mới có căn cứ để tiến hành điều tra, làm rõ tính chính xác của vụ việc.

Khi Tòa án xem xét ai là người có quyền nuôi con khi cha mẹ ly hôn cần căn cứ vào độ tuổi của bé; điều kiện về kinh tế của cha và mẹ; khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của cha và mẹ; điều kiện sống của con sau khi cha, mẹ ly hôn. Đối với hành vi vi phạm của chồng bạn, Tòa án có thể cân nhắc, đánh giá về nhân thân của người cha có đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi được trực tiếp nuôi con hay không. Việc giao con cho cha hay để mẹ nuôi còn phụ thuộc vào phán quyết cuối cùng của Tòa án khi Tòa án đã xem xét các yếu tố trên để lựa chọn ra người phù hợp, tốt hơn cho sự phát triể của đứa trẻ.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác.

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

2. Chồng có hành vi ngoại tình có thể bị đi tù ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng đi ngoại tình khi bị vợ phát hiện thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt tù hay không ? Vợ phát hiện chồng có quan hệ ngoài luồng với người khác, tố cáo hành vi này với cơ quan công an thì chồng có thể bị đi tù ?
Xin cảm ơn!

Trả lời:

Hiện nay, với điều kiện kinh tế và xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề về ngoại tình đang diễn ra rất phổ biến. Một vấn đề đang được rất nhiều người quan tâm ở đây là đối với hành vi ngoại tình này có được coi là hành vi vi phạm pháp luật hay không. Sau đây, Luật Minh Khuê sẽ phân tích cho bạn đọc dưới góc độ của pháp luật về hành vi "ngoại tình" hiện nay.

Theo Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;"

Khái niệm vợ, chồng theo quy định nêu trên thì cần hiểu đúng theo tinh thần của pháp luật đó là có quan hệ kết hôn, hôn nhân. Cần phân biệt rõ khái niệm này bởi có rất nhiều người nhầm tưởng rằng cứ chung sống với nhau thì sẽ được pháp luật gọi là 'vợ","chồng".

Xét về quy định của quan hệ hành chính thì có thể thấy hành vi "ngoại tình" vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng tức người đang có vợ hoặc chồng mà tiến hành chung sống với người khách như vợ chồng hoặc biết rõ là người khác đã có vợ, có chồng mà chung sống với người đó như vợ chồng. Đối với hành vi này thì sẽ bị áp dụng mức xử phạt hành chính là từ 1.000,000 đến 3.000,000 như nêu trên.

Tuy nhiên, như thế nào là "chung sống với người khác như vợ chồng thì hiện nay pháp luật về hành chính chưa có văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể vấn đề như thế nào là "chung sống với nhau như vợ chồng". Vấn đề này đã được giải thích cụ thể trong pháp luật Hình sự như sau: theo quy định của Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC:

"3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... "

Không chỉ hướng dẫn rõ cho khái niệm "chung sống với nhau như vợ chồng", pháp luật hình sự hiện nay cũng đang có chế tài xử phạt hình sự đối với hành vi này tại Điều 182 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 như sau:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...

- Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
(Theo Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC)

Dẫn chiếu các quy định của pháp luật về vấn đề "ngoại tình" hiện nay với đời sống thực tế thì có thể thấy việc xác định hành vi "ngoại tình" và có dấu hiệu của "chung sống như vợ chồng" và có đủ căn cứ để chứng minh điều này thì mới có thể xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc chứng minh người vợ/chồng khi phát hiện chông/vợ "ngoại tình" muốn chứng minh được việc chồng/vợ có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung ,… với người khác là tương đối khó khăn.

Vì vậy, phát hiện chồng/vợ "ngoại tình" chưa hẳn đã đủ căn cứ để pháp luật có thể xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt tù đối với hành vi "ngoại tình" này.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

3. Làm gì khi chồng ngoại tình mà không muốn phải ly hôn ?

Thưa luật sư! Em và chồng cưới nhau được 6 năm. Có 2 con. Chồng em ngoại tình với cô giáo khoảng 1 năm gần đây và vẫn đang ngoại tình công khai. Mới đây em vô tình thấy mật khẩu điện thoại iphone của chồng. Nên tối đó khi đợi chồng ngủ em đã xem hình ảnh và đọc hết tất cả tin nhắn của họ....Em đã chụp lại hình ảnh và tin nhắn qua lại của họ rồi dùng zalo của chồng gửi qua cho zalo của em tất cả. Và rồi em xóa hết không để chồng biết. Em có hình ảnh hôn nhau.. ôm nhau ngủ.. hình khỏa thân của cô giáo đó. Hình họ đi chơi ăn uống và những hình ảnh đi chơi mà cô giáo đó đăng lên face cá nhân của cổ. Em có tin nhắn qua lại của cô giáo đó ghen ngược với em.
Ghen với 2 con của tụi em. Và mắng chửi mẹ con em không ra gì luôn. Cứ mỗi lần chồng em không kịp trả lời tin nhắn thì coi như là cổ lôi em ra chửi và nói chắc anh đang ở bên con vợ đần thối. Con ch* má.... Em có tin nhắn cô giáo đó cấm chồng em quan hệ tình dục với em. Cấm chồng em đưa tiền cho em. Cấm chở con em đi bệnh viện dù nó đang bị sốt cao. Cấm cho em đụng vào 2 chiếc xe ô tô mà vợ chồng em mua trả góp..... nói chồng em không được để cho em up hình 2 vợ chồng lên fb. Cổ rất hay vào fb của em. Em mà đăng cái gì vui vui với chồng là nó chụp lại rồi chửi chồng em chửi em thậm tệ luôn. Em có tin nhắn cổ đòi đi chụp hình cưới với chồng em. Rồi tin nhắn cổ buộc chồng em phải li dị để làm đám cưới với cổ. Nếu không cổ sẽ tự tử.... Vì chồng em có mượn xe vespa của nó cầm 35 triệu. Và ba của cổ là chánh án tòa án tối cao đã về hưu. Và vì gia đình cổ không biết chồng em có vợ con rồi nên để chồng em qua lại ăn ngủ coi như rể trong nhà.
Nhưng chỉ là ngủ trưa còn đêm nào chồng em cũng về nhà. Và giờ em mệt mỏi em muốn biết nếu em tung tất cả hình ảnh tin nhắn của họ cho sở giáo dục đào tạo. Cho hiệu trưởng trường cổ đang dạy xem. Cho ủy ban nhân dân, công an nơi phường cổ đang ở xem. Và em tới nhà cho ba mẹ cổ biết sự thật về con gái họ. Và em cho bạn bè facebook của cổ biết về cổ. Thì em làm như thế nào để không phạm luật. Em không muốn li dị vì chồng em không có ý định li dị. Cái xe của cổ cầm cho chồng em chồng em đã lấy ra rồi. Và bây giờ em muốn làm vậy để chấm dứt mối quan hệ của cổ với chồng em. Cho em hỏi những tin nhắn hình ảnh đó có làm bằng chứng được không. Vì chồng em lưu cổ tên khác tên con trai và khi em chụp lại tin nhắn thì em quên đổi tên lưu trong máy. Nên khi chụp vẫn dính tên con trai ?
Xin tư vấn giúp em ạ.Em cảm ơn!

Làm gì khi chồng ngoại tình mà không muốn phải li hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Lời đầu tiên chún gtôi gửi tới bạn lời chia sẻ về hoàn cảnh hiện nay. Ai cũng muốn có một gia đình hạnh phúc tràn ngập niềm vui tuy nhiên sự đưa đẩy của cuộc sống xô bồ đã khiến cho chúng ta quên lãng đi những giá trị thực sự của nó. Theo những gì bạn chia sẻ, chúng tôi có thể hiểu được tâm trạng của bạn vào thời điểm hiện tại. Vấn đề mà bạn thắc mắc ở đây là làm gì để giữ được hạnh phúc gia đình. Chính vì vậy, chúng tôi xin tư vấn cho bạn một số vấn đề như sau:

- Hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

Với thông tin bạn cung cấp, chúng tôi biết rằng bạn và chồng đã kết hôn được 6 năm, có với nhau 2 con. Và chồng bạn đã có hành vi ngoại tình với một người phụ nữ khác. Vấn đề đặt ra là có sự vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình? có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng mà pháp luật quy định?

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Như vậy, chồng của bạn đã có gia đình và cô gái kia dù chưa có chồng hay đã có chồng thì đều vi phạm điều cấm do pháp luật quy định. Tùy theo mức độ, tính chất họ có thể sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 hoặc xử lý theo pháp luật hành chính.

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Như vậy, rõ ràng ở đây xác định được chồng bạn và người phụ nữ kia đã có hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

- Cần làm gì để giữ hạnh phúc gia đình.

Dân gian có câu "vợ chồng là nghĩa tào khang" tức là tình nghĩa vợ chồng được hình thành từ thời còn nghèo khổ phải ăn cám, ăn trấu. Điều này muốn nói rằng tình cảm vợ chồng phải do chính hai người xây dựng xuất phát từ hoàn cảnh, đời sống vợ chồng. Chính vì vậy, chúng tôi thấy rằng trước hết bạn cần xem xét lại hoàn cảnh gia đình để tìm ra nguyên nhân tại sao chồng mình lại ngoại tình. Phải chăng tình cảm giữa hai người không còn hay xuất phát từ vấn đề tình dục...Bởi chỉ có tìm ra nguyên nhân mới có thể giải quyết được tình trạng của bạn hiện nay.

Do thông tin bạn cung cấp chưa thực sự đầy đủ nên chúng tôi xin đưa ra một số lời khuyên và các trường hợp giả định như sau:

Bạn và chồng có thực sự còn tình cảm với nhau không? Bạn còn, anh ta không còn hay cả hai đều còn mà do sự lôi kéo từ bên ngoài mà có hành vi ngoại tình. Nếu hai người còn tình cảm với nhau và có sự ràng buộc trách nhiệm bởi hai đứa trẻ thì không bằng bạn nói chuyện thẳng thắn với chồng, với nhà chồng hay hơn nữa là với gia đình cô gái kia để cho họ hiểu rõ hơn tình hình hiện nay của ba người. Bạn có thể sử dụng những hình ảnh, tin nhắn đó ở mức độ hạn chế, phù hợp để chứng minh cho lời nói của bạn và tuyệt đối bạn không nên phát tán chúng qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...) cho bạn bè, người thân của họ bởi làm vậy bạn đã có hành vi có dấu hiệu hình sự. Một giải pháp mà bạn có thể sử dụng để chấm dứt tình trạng hiện nay đó là nhờ sự can thiệp của pháp luật thông qua cơ quan nhà nước như Ủy ban nhân dân, Công an hay Hội liên hiệp phụ nữ....Biện pháp này mang tính trừng trị, răn đe, có tính giáo dục xã hội tuy nhiên bạn cũng cần phải xác định một điều rằng rủi ro của biện pháp có thể rất lớn sau khi được thực hiện. Đó chính là không thể ngăn cản được sự qua lại giữa chồng bạn với người phụ nữ đó bởi suy luận một cách đơn giản, vấn đề này giải quyết bằng con đường thuyết phục tình cảm sẽ có hiệu quả hơn. Vì sao? Vì họ đã có cảm tình với nhau mà bây giờ bắt họ chấm dứt quan hệ bằng sự cưỡng chế thì làm sao có hiệu quả được. Mặt khác, khi áp dụng biện pháp này cũng có thể gây ra những bất lợi cho chồng bạn. Qua thông tin bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy rằng bạn vẫn còn tình cảm với người chồng, không muốn ly hôn nên biện pháp này khó mà được sử dụng.

Lời cuối chúng tôi chúc bạn bình tĩnh để tìm ra được giải pháp tốt nhất cho hoàn cảnh hiện tại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Phân chia tài sản khi chồng ngoại tình có con riêng đòi ly hôn?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Năm 1980 ông nội tôi có mua một mảnh đất .đứng tên của ông. Năm 1982 bố mẹ tôi lấy nhau, được ông cho ra ở trên mảnh đất đó.
Năm 1984 thì sinh được chị tôi. Năm1985 thì sinh ra tôi, cũng là thời gian bố mẹ tôi xây nhà trê mảnh đất đó. Năm 1990 thì xây nên gác hai. Tổng nhà có 5 gian tầng 1 và 4 gian tầng 2. Năm 1992 bố tôi có bồ nhí và sinh được 01 em trai, đến 1995 lai sinh được 01 em nữa. Cũng là năm đó bố mẹ tôi ly hôn. Mẹ tôi được nuôi chị tôi, còn tôi ở với bố. Luật sư cho tôi hỏi mẹ tôi còn được hưởng quyền lợi gì nữa. Tài sản trên mảnh đất đó mẹ tôi có được phân chia không?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Chúc bạn mạnh khỏe và thành công.

Về vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Về tài sản trên mảnh đất đó được xác định là tài sản chung của bố mẹ anh trong thời kỳ hôn nhân. Bố mẹ anh có thể thỏa thuận và chia theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân Gia đình 2014. Theo đó, Bố mẹ anh có thể tự thỏa thuận việc chia tài sản này, còn nếu như không thỏa thuận được thì Tòa Án sẽ chia theo các nguyên tắc sau đây:

"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Ngoài ra, thì việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của bố, mẹ anh do bố, mẹ anh thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết.

Trong trường hợp mà bố, mẹ anh không thể chia tài sản trên đất đó được thì nếu như bố (mẹ) anh mà tiếp tục sử dụng nhà ở thì phải thanh toán cho mẹ (bố) anh phần giá trị mà họ được hưởng.

5. Quyền định đoạt tài sản chung khi chưa tiến hành thủ tục ly hôn ?

Chào luật sư! Tôi có vài câu hỏi mong nhận được sự tư vấn, giải đáp của luật sư. Tôi có chung sống với một người (chúng tôi chưa đăng ký kết hôn do anh chưa làm thủ thục ly hôn với vợ). Tháng 1/2015, tôi có sinh một bé gái. Đăng ký khai sinh con có làm thủ tục cha nhận con nên trên giấy khai sinh có tên của người cha.
Hiện tại, anh ấy đang mua trả góp 2 căn hộ, đến tháng 8/2016 này nhận nhà và muốn chuyển nhượng cho con gái tôi.
- Theo như tôi được biết thì phải có sự đồng ý của người vợ thì tài sản cho con gái tôi mới được cho là hợp pháp đúng ko?
- Vậy nếu trong trường hợp ko có sự đồng ý của người vợ, do người vợ ko biết đến tài sản này thì có cách nào để chồng tôi tặng căn hộ đó cho con tôi hoặc bán lại cho tôi mà sau này nếu có xảy ra tranh chấp thì tài sản đó ko bị mất đi ?
Cảm ơn!

Trả lời:

1. Quy định về tài sản chung và riêng trong thời kỳ hôn nhân

Do chồng quý khách đang trong quan hê hôn nhân với người phụ nữ khác nên hầu hết tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa chồng quý khách và người phụ nữ kia đêu là tài sản chung trừ một số trường hợp: tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng, tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản do vợ, chồng thỏa thuận là tài sản riêng.

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, dù cho cha của cháu bé có tự mình bỏ tiền ra mua hai căn hộ nêu trên thì hai căn hộ đó đều là tài sản chung của cha cháu bé với người vợ hợp pháp. Điều này có nghĩa là khi người cha muốn tặng cho con gái phải được sự đồng ý của người vợ hợp pháp.

Nếu người cha muốn tặng cho con gái riêng mà vợ hợp pháp không chấp nhận thì phải tiến hành một số thủ tục để tài sản đó trở thành tài sản riêng của mình rồi tiến hành tặng cho lại cho cháu bé hoặc anh ấy có thể để quý khách đứng tên hợp pháp trên tài sản luôn. Một trong hai cách thức nêu trên đều có thể tiến hành nếu giao dịch mua bán căn hộ giữa chồng quý khách và chủ đầu tư chỉ mới diễn ra.

2. Nguyên tắc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn thế nào ?

Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

+ Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

> Quy định mới về phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn

Từ 01/03/2016 việc chia tài sản chung của vợ chồng áp dụng theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Cụ thể

- Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau: Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn; Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

- Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

- Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

- Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

(1) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng;

(2) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn;

(3) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự;

(4) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

- Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

- Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại