1. Cổ tức (DIVIDEND) là gì ?

Cổ tức (DIVIDEND) là tỉ lệ lợi tức thuần được công ty chi trả cho các cổ đông. Công ty chi trả cổ tức liên tục lâu nhất trên Thị trường chứng khoán bắt đầu thanh toán vào năm 1848. Công ty chi trả cổ tức lâu nhất trên Thị trường Chứng khoán Mỹ là Providence Gas Co. Đầu tiên trả cổ tức vào năm 1850.

Xem Cash divi­dend; Cumulative dividend; Extra divi­dend; Interim dividend; Liquidating div­idend; Optional dividend; Phony divi­dend; Property dividend; Regular divi­dend; Scrip dividend; Seat dividend; Special dividend; Stock dividend.

The proportion of net earnings paid to its stockholders by a corpo­ration. The longest consecutive div­idend payer on the New York Stock Exchange is the Pennsylvania Railroad Co., which began pay­ments in 1848. The longest consec­utive payer on the American Stock Exchange is Providence Gas Co., which initiated dividends in 1850.

See Cash dividend; Cumulative divi­dend; Extra dividend; Interim dividend; Liquidating dividend; Optional divi­dend; Phony dividend; Property divi­dend; Regular dividend; Scrip divi­dend; Seat dividend; Special dividend; Stock dividend).

Như vậy, cổ tức có thể được thanh toán hàng quý (thông thường theo năm tài chính) cho cổ đông như lợi nhuận trên đầu tư. Cổ tức có thể là tiền mặt, cổ phiếu hoặc tài sản, và được công bố từ thặng dư hoạt động. Nếu không có thặng dư thì khoản thanh toán đó được xem như lợi nhuận từ vốn. Thanh toán cổ tức, trong thực tế bị đánh thuế hai lần - một lần khi lợi nhuận của doanh nghiệp bị đánh thuế và một lần nữa khi cổ đông đóng thuế cổ tức.

Tiền được trả cho người nắm giữ tài khoản cổ trong một nghiệp đoàn tín dụng; khoản thanh toán tương đương với tiền lãi.

2. Ý nghĩa của cổ tức là gì ?

Cổ tức là phần lãi chia cho cổ đông của doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt sau một chu kỳ kinh doanh, thường là một năm.

Khi doanh nghiệp hoạt động có lãi, nó phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và phần lãi còn lại (sau thuế) được gọi là "lợi nhuận có thể chia cho cổ đông." Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp không bao giờ chia hết phần lợi nhuận có thể chia này, mà họ phải giữ lại một tỉ lệ tương đối lớn để tiếp tục đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và các dự án mới, phục vụ các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Vì lý do này, khi đại hội cổ đông diễn ra cuối kỳ kinh doanh, sau khi tổng kết tình hình Ban giám đốc có thể đệ trình lên Hội đồng quản trị phương án sử dụng một tỉ lệ nhất định của phần lãi sau thuế để chia lãi cho các cổ đông.

Nếu phương án chia này được biểu quyết thông qua, thì chính sách chia cổ tức của năm đó chính thức được xác nhận và có hiệu lực. Một số doanh nghiệp cũng có chính sách cổ tức cho một giai đoạn nhiều năm, nhưng bản thân chính sách này cũng được thực thi chỉ trong một số điều kiện nhất định.

Do có thể tồn tại một số loại cổ phiếu khác nhau trong cùng một cấu trúc vốn doanh nghiệp, nên có thể có một số loại cổ tức với các mức khác nhau và điều kiện ưu tiên thanh toán về thời gian và khối lượng khác nhau. Thông thường, khi nói tới cổ tức nói chung, người ta ám chỉ cổ tức của cổ phiếu phổ thông.

3. Thời hạn trả cổ tức

Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên.

Hội đồng quản trị lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức.

Thông báo về trả cổ tức được gửi bằng phương thức bảo đảm đến cổ đông theo địa chỉ đăng kí trong sổ đăng kí cổ đông chậm nhất 15 ngày trước khi thực hiện trả cổ tức.

4. Hình thức trả cổ tức

Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác qui định tại Điều lệ công ty.

Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và có thể được chi trả bằng séc, chuyển khoản hoặc lệnh trả tiền gửi bằng bưu điện đến địa chỉ thường trú hoặc địa chỉ liên lạc của cổ đông.

5. Chính sách chia cổ tức (Dividend policy)

Chính sách chia cổ tức của công ty phụ thuộc vào những yếu tố sau:

- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong năm, lấy căn cứ là thu nhập ròng của công ty sau khi trả lãi và thuế

- Số cổ phiếu ưu đãi chiếm trong tổng số vốn cổ phần

- Chính sách tài chính trong năm tới trong đó xem xét khả năng tự tài trợ

- Hạn mức của quĩ tích luỹ dành cho đầu tư

- Giá trị thị trường của cổ phiếu công ty.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)