1. Cố ý gây thương tích người khác xử lý thế nào?

Kính chào Luật sư, tôi có vấn đề như sau muốn hỏi Luật sư. Kính mong Luật sư giải đáp: Nếu trong trường hợp A đe dọa đòi đánh B, tiếp đó A đã tiến hành hành vi đánh, ném đá nhưng không gây thương tích nặng cho B (B không bị làm sao). Sau đó, B đã dùng dao đâm người A làm người A bị thương (lủng phổi). Vậy trong trường hợp này pháp luật giải quyết như thế nào? A sinh năm 2002, B sinh năm 1999.
Mong nhận được hồi đáp từ phía Luật sư. Tôi xin cảm ơn.

Cố ý gây thương tích người khác bị xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời.

Việc A tiến hành đe dọa B và sau đó tiến hành các hành vi đánh, ném đá vào B, mặc dù không gây thương tích gì cho B nhưng cũng được xét vào tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Theo đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 134:

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Theo đó, A tiến hành ném đá, đánh B, mặc dù tỉ lệ gây thương tích không lớn nhưng có tính chất côn đồ, A có thể bị xem xét vi phạm khoản 1 Điều 134.

A sinh năm 2002, như vậy hiện tại A 17 tuổi. Theo quy định tại Điều 12 thì:

"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác."

Như vậy, A phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Tuy nhiên, A dưới 18 tuổi nên căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 91 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì:

"Điều 91. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm."

Như vậy, A có thể sẽ được miễn trách nhiệm hình sự vì tội A gây ra là tội ít nghiêm trọng, A có thể bị áp dụng một trong các biện pháp tư pháp như: giáo dục tại xã phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng (Khoản 1 Điều 95 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

Về trường hợp của B, Hành vi của B không được xem là phòng vệ chính đáng theo như quy định tại Khoản 1 Điều 22 Bộ luật hình sự.

B dùng dao đâm A khiến A bị lủng phổi, hành vi này của B là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, được quy định tại Khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự, cụ thể:

"2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này."

Hành vi của B đã vi phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên cần phải xem xét tỉ lệ thương tật của A là bao nhiêu % để có thể áp dụng các điều khoản trong Điều 134 sao cho phù hợp. Việc B dùng hung khí (con dao) cũng được xem là tình tiết tăng nặng với B.

B sinh năm 1999 nên B hoàn toàn có khả năng chịu trách nhiệm về các hành vi của mình trước pháp luật.

>> Tham khảo ngay nội dung liên quan: Tư vấn về vụ hình sự cố ý gây thương tích trong tình trạng say rượu ?

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

2. Gây thương tích 20% cho người khác ngồi tù không?

Chào luật sư, Tôi muốn luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp này. Tôi có mâu thuẫn với bạn của tôi, nguyên nhân là do nó có những lời lẽ, hành vi xúc phạm tôi. Trong lúc nóng giận tôi đã lao xe vào người bạn tôi, bạn tôi phải vào viện, giám định thương tật là 20%. Tôi không biết hành vi này của mình có phải ngồi tù không, mặc dù tôi không cố ý đâm vào người ta, là do người ta có những lý lẽ không đúng với tôi ?
Tôi nhờ luật sư tư vấn giúp tôi, tôi cám ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, có sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

Như vậy, đối với hành vi của mình bạn sẽ phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, mức phạt tù từ 02 năm đến 06 năm tù giam.

>> Tham khảo thêm nội dung: Tội cố ý gây thương tích cho người khác có thể được hưởng án treo không ?

>> Xem thêm:  Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? Người bị tâm thần đánh người thì có bị xử phạt hay không?

3. Gây thương tích người khác bị xử lý hình sự?

Thưa Luật sư Công ty Luật Minh Khuê! Xin luật sư tư vấn giúp em về mức hình phạt đối với trường hợp sau ạ. Vừa qua do mâu thuẫn từ trước có một nhóm kéo xuống nhà đứa em họ em tên N để đánh nhau sau đó gặp dượng em. Dượng đã ngăn và khuyên nhóm đó quay về, nhóm kia về nhưng không về nhà lại tụ tập trên 1 con đường khác.
Trong lúc đó 1 đứa em họ em khác tên V đi ngang qua nhà N và tưởng là đánh nhau. V thấy vậy về nhà gọi anh em của V lấy xe chạy xuống nhà N. Gặp dượng, dượng cũng khuyên và bảo về. Nhưng trong lúc về cung không về mà lại gọi cho anh trai em và 1 đứa em của N tên Đ. Sau đó Đ đã gọi anh trai em và bảo là anh trai đang bị vây đánh tại nhà. Sau đó anh trai em đã cầm cái rựa (1 vật giông như dao) để đi ra nhà N. Cùng lúc đó V lại gọi cho anh trai em không được nên nghĩ là anh trai em bị đánh. Nên đã chạy xuống nhà em. Trên đường xuống nhà em đã gặp nhóm thanh niên lúc nãy và nhóm đó rủ đánh nhau. N đã chạy xuống nhà em cùng lúc đó anh trai em vừa đi ra. Và Đ cũng vừa tới. Cả nhóm đã lên sẽ lên chỗ nhóm kia để đánh nhau. Sau khi gặp nhau. 1 người trong nhóm thanh niên đã dùng rựa chém vào tay anh trai em.
Anh trai em trúng tay có thương tích nhưng không nặng sau đó anh trai em chém lại trúng vào bàn tay làm đứt gân tay 2 ngón của người đó. Và bị đánh bầm mắt và những thương tích ngoài da. Vậy xin cho em hỏi trường hợp của anh trai em sẽ bị xử lý hình sự như thế nào? Có bị đi tù không ạ? Nhưng đứa em của em thì cầm gậy. Chỉ anh trai em cầm rựa. Bên nhóm kia cũng có 1 cây rựa do thanh niên bị anh trai em chém kia cầm theo.

Mong quý luật sư trả lời giúp em. Chúc quý công ty ngày càng phát triển mở rộng hơn. Em xin trân trọng cảm ơn!

Cố ý gây thương tích người khác có thể bị xử lý hình sự?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời

Như vậy,nếu hành vi của anh trai bạn thỏa mãn những dấu hiệu pháp lý như đã phân tích cụ thể ở trên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134)

>> Xem thêm:  Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân hay công ty ?

4. Tố cáo hành vi đánh người gây thương tích nặng

Em có mâu thuẫn tiền bạc với 1 đứa ở xóm ( có 80.000 vnđ) lúc đầu em cũng chịu chi trả, em bảo phải về nhà rồi đem tiền qua. Vậy mà nó bảo bạn trai nó (sống chung mà không có chứng minh thư để công an khu vực làm giấy tạm trú tạm vắng) qua bên nhà e la um sùm còn đòi quây nhà em.

Em cự cãi 1 hồi bạn đó vô nhà lấy nón bảo hiểm đập xe em rồi còn lấy nón bảo hiểm đó đã bị bể đập vào đầu e làm rách chân mày phải khâu 10 mũi. Vậy cho em hỏi nếu làm đơn tố cáo mức xử phạt của bạn đó sẽ như thế nào ? Và nếu thời gian khi em bị hành hung đến ngày em làm đơn tố cáo là 5 ngày, vậy có được làm đơn khởi kiện về hành vi cố ý đánh người gây thương tích không ạ? Với thương tật đó có được xét về vi phạm hình sự không ạ ?

Cảm ơn luật sư!

>> Xem thêm:  Thủ tục yêu cầu người bị hại hoàn trả tiền bồi thường ?

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, căn cứ tại điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 hiện hành có quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác, cụ thể như sau:

Như vậy, việc xác định tỷ lệ thương tật làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm theo quy định của đối với tội cố ý gây thương tích theo điều 134. Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng phải thuộc các trường hợp như luật nêu trên.

Theo điểm c, khoản 1, Điều 134 có quy định là nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và thuộc trường hợp gây cố tật nhẹ cho nạn nhân. “Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân" là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.

Theo trường hợp này, người bạn đó đã dùng nón bảo hiểm đã vỡ để đập đầu bạn gây ra 10 mũi khâu ở chân mày như vậy sẽ để lại seo to và làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên thỏa mãn trường hợp luật định tại điểm c, khoản 1, điều 134.

Do đó hành vi của người bạn kia đã đủ yếu tố để cấu thành tội phạm hình sự.

Thứ hai là về việc vụ việc đã xảy ra 5 ngày thì có được khởi kiện không ? Theo căn cứ tại khoản 2, điều 27 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Mà theo phân tích ở trên thì hành vi đó có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nên đây là tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 1, điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó thời hiệu truy cứu trách nhiệm là 5 năm, ở trường hợp này thì vụ việc xảy ra được 5 ngày nên vẫn còn rất nhiều thời gian để bạn khởi kiện vụ án.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 điện thoại số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn của Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tạt axit người khác bị xử lý thế nào?