1. Con nuôi chưa đăng ký có được hưởng di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, xin luật sư cho tôi hỏi một số vấn đề liên quan đến thừa kế di sản: Cô ruột của tôi không lấy chồng nhưng có bầu, năm 1982 cô ruột tôi vào bệnh viện để sinh con nhưng không may đứa bé qua đời. Gia đình tôi sợ cô của tôi buồn nên đã xin một đứa bé của một sản phụ sinh cùng ngày với cô tôi (sản phụ này để con ra nhưng không muốn nuôi). Gia đình tôi không cho cô ruột tôi biết đấy là con nuôi nên cô tôi vẫn làm giấy khai sinh và khai đứa bé là con đẻ. Trong thời gian nuôi con cô tôi cũng dần phát hiện ra đấy không phải là con ruột của mình và biết chuyện con ruột đã chết nhưng vẫn yêu thương, nuôi dưỡng con nuôi và không làm lại giấy tờ xác minh đấy là con nuôi.
Năm 2009 cô tôi mất có để lại hai căn nhà, hai căn nhà này do con nuôi của cô tôi tiếp nhận và quản lý với lý do là được thừa kế từ mẹ. Hiện nay con nuôi của cô tôi muốn bán hai căn nhà của cô tôi đi để đến nơi khác sinh sống nhưng ba tôi không đồng ý, em ấy hiện tại đã làm gần xong thủ tục bán nhà.
Như vậy có được hay không vì con của cô tôi trên giấy tờ là con đẻ nhưng thực chất là con nuôi, chúng tôi có thể chứng minh đấy không phải là con để và giữ lại hai căn nhà của cô tôi không ?
Mong Luật sư tư vấn giúp, tôi xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào cô, cảm ơn cô đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của cô được tư vấn như sau:

Đối với việc thừa kế di sản khi không có di chúc thì di sản sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, điều này được quy định tại Điều 649, Bộ Luật dân sự năm 2015 như sau:

"Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

Những người thừa kế và hàng thừa kế được quy định cụ thể trong Bộ Luật dân sự năm 2015 tại Điều 651:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản:”.

Như vậy, có thể thấy, hàng thừa kế thứ nhất mà pháp luật quy định bao gồm những đối tượng sau: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa theo quy định này của Bộ Luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế trong cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau, trong đó đối với con của người để lại di sản thì không phân biệt là con nuôi hay con đẻ đều sẽ được hưởng di sản như nhau. Trong trường hợp những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất từ chối nhận di sản, đã qua đời, bị truất quyền nhận di sản thì di sản thừa kế mới được chia cho những người thuộc hàng thừa kế sau.

Tuy nhiên, đối với trường hợp nuôi con nuôi thực tế quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ được xác lập với điều kiện áp dụng tại Điều 50 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

1. Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

2. Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 điều này có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi.

3. Chính phủ quy định chi tiết thủ tục đăng ký nuôi con nuôi quy định tại điều này, bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân ở các vùng, miền.

Theo quy định nêu trên, việc nuôi con nuôi thực tế phát sinh trước ngày 01/01/2011 thì phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn năm năm. Khi được pháp luật công nhận sự kiện nuôi con nuôi thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Cô của chị mất năm 2009, không thuộc điều kiện bắt buộc phải đăng ký nuôi con nuôi với cơ quan nhà nước do vậy, con nuôi của cô ruột chị vẫn được hưởng di sản thừa kế theo như quy định của pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác chị vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Thắc mắc các vấn đề về thừa kế ?

Chào luật sư! Luật sư có thể trả lời giúp tôi 2 câu hỏi này được không ạ?

Câu hỏi 1: Cha tôi sinh 3 trai và 2 gái. Tất cả đã có vợ chồng. Tôi từ nhỏ làm với cha tôi còn anh cả tôi đi làm xa cách đây mấy chục năm. Khi cha tôi mất chưa chia được tài sản. Vậy cho tôi hỏi anh cả tôi có thể lấy đất cho con của chị tôi sử dụng mà không hỏi ý kiến 2 anh em tôi được không? Khi cha tôi mất tất cả quyền có phải do anh cả của tôi quyết định hay không?

Câu hỏi 2: Em trai tôi đã thế chấp sổ đỏ ở ngân hàng. Vậy em trai tôi có thể cho con của chị tôi ra ở ngôi nhà đó được không? Và nếu ra ở được thì con của chị tôi có thể sử dụng đất của cha tôi được không?

Xin cảm ơn Luật sư!

Thắc mắc các vấn đề về thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Theo những thông tin bạn cung cấp, có thể hiểu việc bố bạn mất khi chưa lập di chúc. Vì vậy việc phân chia di sản được thực hiện theo pháp luật.

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 , hàng thừa kế thứ nhất bao gồm mẹ bạn và 5 người con của bố bạn. Nếu mẹ đã mất thì chỉ còn 5 anh em bạn hưởng thừa kế. Tất cả những thành viên trong hàng thừa kế này có phần di sản bằng nhau. Để công minh nhất, tất cả anh em hãy ra phòng công chứng cấp huyện để giải quyết thủ tục phân chia di sản cũng như làm thủ tục xin cấp sổ đỏ cho phần đất của mình.

Việc anh cả của bạn sử dụng đất mà không hỏi ý kiến là sai. Vì hiện tại đất đai vẫn là tài sản chung của những người thừa kế.

Ngoài đất đai, ngôi nhà cũng thuộc di sản thừa kế và chia đều cho những người thừa kế. Nếu gặp khó khăn trong việc chia ngôi nhà, có thể quy đổi thành tiền và chia, hoặc người nhận ngôi nhà sẽ không nhận đất nữa. Việc này các bạn cũng nên nhờ cán bộ phòng công chứng giải quyết để dễ dàng trong việc định giá ngôi nhà, giá đất. Giả sử em trai bạn nhận thừa kế ngôi nhà và không nhận đất, thì người em trai có toàn quyền định đoạt và sử dụng ngôi nhà đó.

Tóm lại, những người thừa kế chỉ có quyền sở hữu, định đoạt đối với phần thừa kế của chính mình. Khi chưa có sự phân chia minh bạch theo pháp luật, thì việc sử dụng đều phải thông qua ý kiến của những người còn lại. Trường hợp gia đình không thể thỏa thuận với nhau, bạn có thể thực hiện thủ tục khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân cấp huyện (quận) nơi có tài sản thừa kế.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Ở trên đất ông bà, ông bà mất có được thừa kế mảnh đất đó ?

Thưa Luật sư, năm 1992 ông nội tôi chết, năm 2000 bà nội tôi chết, ông bà sinh được 2 người con gồm bố tôi và cô tôi. Khi còn sống ông bà sống cùng bố mẹ tôi cho đến khi chết, tất cả đều do bố mẹ tôi chăm sóc và phụng dưỡng ông bà. Cô tôi lập gia đình từ năm 1975, sinh được 2 người con, cuộc sống của cô và chồng không hạnh phúc lên cô và chồng chia tay vài năm sau đó.

Cô bỏ về nhà ông bà tôi và khi đó ông bà còn sống đã cho cô một mảnh đất khác và đã đứng tên cô. Khi ông bà chết thì bố mẹ tôi vẫn ở mảnh đất mà ông bà ở trước khi chết từ đó đến bây giờ. Khi ông bà chết thì không để lại di chúc.

Bố mẹ tôi sinh được 3 người con, 2 người đã lập gia đình và có nhà riêng, bố mẹ tôi muốn làm thủ tục sang tên cho người con sẽ ở cùng bố mẹ tôi nhưng mảnh đất này thì vẫn mang tên ông bà.

Vậy khi sang tên thì thủ tục liên quan đến thừa kế của cô tôi sẽ được giai quyết như thế nào? Và nếu cô tôi không đồng ý sang tên, mà muốn đòi quyền thừa kế của mình trong mảnh đât đó thì sẽ giải quyết như thế nào?

Xin cảm ơn!

Người gửi: N.V

Ở trên đất ông bà, ông bà mất có được thừa kế mảnh đất đó?

Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn trình bày thì ông bà bạn mất không để lại di chúc cho nên mảnh đất ông bà bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật mà không đương nhiên thuộc về bố mẹ bạn. Cụ thể, mảnh đất đó được chia cho những người sau theo Bộ luật dân sự 2005 :

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Mảnh đất sẽ được chia làm 2 phần cho bố bạn và cô bạn.

Ông bạn mất năm 1992, bà mất năm 2000. Theo điều 645 Bộ luật dân sự 2005 "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế." thì thời hiệu khởi kiện để thừa kế đã hết.

Tuy nhiên, theo tiểu mục 2.4, Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

"a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, kể từ thời điểm bà bạn mất cho đến giờ là 15 năm cho nên không có quyền yêu cầu khởi kiện chia thừa kế mà mảnh đất đó đã trở thành tài sản chung của bố và cô bạn. Bố bạn muốn chuyển quyền sử dụng một phần mảnh đất sang cho bạn thì bố bạn cần làm văn bản yêu cầu chia tài sản chung. Bố bạn chỉ có quyền sang tên đối với 1/2 quyền sử dụng đất mà ông bà bạn để lại cho bạn mà không được sang tên quyền sử dụng toàn bộ mảnh đất vì 1/2 quyền sử dụng mảnh đất thuộc về cô của bạn.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Hỏi về vấn đề định giá di sản và thỏa thuận giữa các đồng thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Mong Luật sư tư vấn cho tôi vấn đề về chuyển nhượng bất động sản. Bố tôi có 3 người con trai, tôi là con út và là con người vợ 2 của bố tôi, trên tôi có 2 anh trai (con người vợ cả).
Năm 2011, bố tôi mất, có để lại di chúc trong đó ghi rõ tài sản để lại là 1 ngôi nhà ở Phương Mai_Đống Đa_Hà Nội ( 27m2 có sổ đỏ mang tên bố tôi). Tôi được hưởng 3/4 giá trị ngôi nhà, 1/4 còn lại của người anh thứ 2. Tôi và vợ con vẫn ở ngôi nhà đó từ khi bố tôi mất đến nay, hiện nay người anh thứ 2 yêu cầu được nhận phần tài sản được thừa kế của mình. Tôi nhất trí việc trên, tuy nhiên tôi có 2 vấn đề thắc mắc như sau:
1. Định giá ngôi nhà đó ở thời điểm hiện tại như thế nào ? (tôi sẽ trả tiền mặt để mua lại phần của anh trai tôi)?
2. Khi đã thống nhất giá trị tôi cần làm những thủ tục gì để hợp thức hóa tài sản đó mang tên tôi để ràng buộc các bên thực hiện đúng thỏa thuận?

Hỏi về vấn đề định giá di sản và thỏa thuận giữa các đồng thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 684 Bộ Luật Dân sự 2005:

"Điều 684. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản."

Như vậy, giá trị của ngôi nhà mà bạn và anh bạn cùng được thừa kế sẽ được tính theo giá trị tại thời điểm hai bạn phân chia di sản. Theo thông tin mà bạn cung cấp, bạn muốn trả tiền để mua lại phần di sản anh bạn được hưởng. Do đó, hợp đồng giữa bạn và anh bạn được thực hiện theo quy định của pháp luật về mua bán tài sản. Theo quy định tại Điều 431 BLDS:

"Điều 431. Giá và phương thức thanh toán

1. Giá do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên.

Trong trường hợp các bên thoả thuận thanh toán theo giá thị trường thì giá được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh toán.

Đối với tài sản trong giao dịch dân sự mà Nhà nước có quy định khung giá thì các bên thoả thuận theo quy định đó.

2. Các bên có thể thoả thuận áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá.

3. Thoả thuận về giá có thể là mức giá cụ thể hoặc một phương pháp xác định giá. Trong trường hợp thoả thuận mức giá hoặc phương pháp xác định giá không rõ ràng thì giá của tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng.

4. Phương thức thanh toán do các bên thoả thuận."

Căn cứ vào quy định trên, việc định giá ngôi nhà do bạn và anh của bạn tự thỏa thuận với nhau. Trường hợp không có sự đồng thuận trong việc định giá tài sản, bạn và anh bạn có thể nhờ đến tổ chức định giá tài sản định giá cho ngôi nhà này hoặc căn cứ vào giá thị trường được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh toán.

Sau khi thống nhất được giá trị của của ngôi nhà, bạn và anh bạn có thể tiến hành thủ tục nhận di sản tại phòng công chứng. Tham khảo tại bải viết. Theo đó, bạn thực hiện các bước sau:

Bước 1: Làm thủ tục khai nhận di sản tại phòng công chứng:

Nơi tiếp nhận hồ sơ: Phòng công chứng

Hồ sơ thủ tục bao gồm: Bản sao có công chứng các giấy tờ sau:

- Sơ yếu lý lịch của người được nhận di sản thừa kế

- CMND/ hộ chiếu, hộ khẩu của những người sau: bạn, cha, mẹ và người anh thứ hai của bạn

- Hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền (trong trường hợp xác lập giao dịch thông qua người đại diện)

- Giấy chứng tử của cha bạn

- Di chúc

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là di sản thừa kế ( giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở)

Số lượng hồ sơ: 1 bộ.

Tiếp đó, công chứng viên ra thông báo để niêm yết tại UBND xã, phường, thị trấn nơi người để lại di sản thường trú cuối cùng.

Sau khi nhận lại bản niêm yết thừa kế có xác nhận của UBND phường, xã mà không có tranh chấp, khiếu kiện, Công chứng viên hẹn ngày lên ký kết văn bản khai nhận/ thỏa thuận phân chia di sản

Vào ngày hẹn, người thừa kế mang theo toàn bộ bản chính các giấy tờ đã nộp cho phòng công chứng đến ký kết văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Bước 2: Sau khi văn bản thỏa thuận phân chia di sản được xác nhận, bạn tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở tại UBND cấp huyện nơi có đất theo thủ tục sau:

- Nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện

- Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

- Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

- Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạn cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.

Hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

- Các giấy tờ về thừa kế như: Di chúc, Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước);

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;

- Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).

- Giấy chứng tử;

- Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Lệ phí trước bạ là 0,5% , giá đất để tính lệ phí trước bạ là giá đất do UBND tỉnh ban hành áp dụng tại thời điểm đăng ký nộp lệ phí trước bạ.

Bạn có thể liên hệ với Phòng Tài Nguyên Môi Trường nơi có miếng đất đó để biết rõ hơn về trình tự thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Xin hỏi con nuôi có được thừa kế không ?

Xin chào Luật sư, Bà Họ của tôi đang là nguyên đơn trong vụ án chia di sản thừa kế của ông Họ tôi, tài sản đang bị tranh chấp bởi con nuôi riêng của ông, bà vợ bé của ông( có đứng tên chung trên sổ đỏ với ông tôi) và bà tôi là nguyên đơn, Toà án nhân dân huyện đã thụ lý được 3 năm nhưng chưa giải quyết xong, dù đã nhiều lần tổ chức hoà giải. Toà cũng đã định giá tài sản xong theo yêu cầu của Bà Họ tôi, vì bà tôi đã cao tuổi nên muốn nhận con gái tôi làm con nuôi, phòng khi bà có chuyện gì thì con gái tôi sẽ hưởng phần di sản của bà (số tài sản hiện tại của bà và phần di sản sau khi toà phân chia).

Luật sư cho tôi hỏi 2 vấn đề:

Thứ nhất: Theo luật hiện hành thì con gái tôi có quyền hưởng phần tài sản của bà Họ tôi trong số tài sản của ông Họ tôi để lại hay không.

Thứ 2: BàHọ tôi có quyền làm di chúc cho con gái tôi với phần thừa kế mà bà Họ tôi sẽ được hưởng không? ( mặc dù chưa biết là bao nhiêu trong số tài sản của ông Họ tôi vì toà chưa xét sử).

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Người hỏi: N.V

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 676, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.

Như vậy theo quy định của pháp luật hiện hành thì con của bạn là con nuôi nhưng vẫn có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên bạn cần biết rằng, việc nhận con nuôi ở đây phải được pháp luật thừa nhận.

Bà họ của bạn có thể lập di chúc để lại tài san cho con nuôi. Bởi vi theo quy định của pháp luật thì tại Điều 631 BLDS có quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Hơn nữa tại Điều 634 BLDS cũng quy định về di sản thừa kế bao gồm: Tài sản riêng cua người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.

Tuy nhiên càn phải xem xét về tính hợp pháp của di chúc theo quy định tại Điều 652 BLDS như sau:

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?