1. Rượu bia được hiểu như thế nào?

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 thì rượu là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ một hoặc hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm tinh bột của ngũ cốc, dịch đường của cây, hoa, củ, quả hoặc là đồ uống được pha chế từ cồn thực phẩm. Còn bia là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm mạch nha (malt), đại mạch, nấm men bia, hoa bia (hoa houblon), nước.

Bên cạnh khoản 5 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 có quy định tác hại của rượu, bia là ảnh hưởng, tác động có hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, gia đình, công đồng, an toàn giao thông, trật tự, an toàn xã hội, kinh tế và các vấn đề xã hội khác. 

2. Công an phường say rượu, chửi bới, đe dọa người dân thì cấu thành tội gì?

Căn cứ vào Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì đối với trường hợp phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác được quy định rằng người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, kể cả trong trường hợp cá nhân này sử dụng rượu, bia để tiến hành hành vi vi phạm pháp luật thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và hậu quả mà mình gây ra. Cụ thể:

Thứ nhất, về hành vi say rượu, chửi bới:

Đối với trường hợp một cá nhân có hành vi xúc phạm, chửi  bới người khác bằng những lời lẽ thiếu văn hóa và xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người đó thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tức là, khi có các dấu hiệu dưới đây thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

Có thể kể đến các hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác  để truy cứu trách nhiệm hình sự thông qua lời nói hoặc hành động nhằm hạ thấp nhân cách, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Chẳng hạn thể hiện bằng lời nói như: sỉ nhục, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu, ... Còn thể hiện qua hành động như: lột trần truồng nạn nhân, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, mắm tôm, trứng thối vào người khác, ...

Bên cạnh đó, các hành vi này được thực hiện với lỗi cố ý và phải xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là một trong những quyền cơ bản của công dân. Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo về về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Ngoài ra, người phạm tội phải thỏa mãn điều kiện về chủ thể là có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. 

Thứ hai, đối với hành vi đe dọa người khác:

Nếu trong trường hợp cá nhân đe dọa người khác với lời lẽ là đe dọa giết người, tức là hành vi làm cho người khác lo sợ rằng người đe dọa sẽ có hành vi giết người, thì khi đó, người này có thể cấu thành tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, khi có các dấu hiệu sau đây:

- Về mặt khách quan của tội phạm:

+ Về hành vi: Người phạm tội đã thực hiện hành vi đe dọa giết người bị hại trái pháp luật. Hành vi đe dọa này có thể thực hiện bằng lời nói, hành động, cử chỉ, ... không nhằm mục đích giết người bị hại mà chỉ nhằm làm người bị hại phải lo lắng, sợ hãi, hình thành trong tư tưởng rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết người bị hại như đã đe dọa.

+ Về mặt hậu quả: Gây nên tâm lý lo lắng, sợ hãi cho người bị hại; người bị hại thật sự tin rằng hành vi đe dọa sẽ được người phạm tội thực hiện.

- Về mặt chủ quan của tội phạm:

Người thực hiện hành vi đe dọa giết người khác phải do lỗi vô ý trực tiếp. Theo đó, người thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là đe dọa người bị hại, làm cho người bị hại lo sợ có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Và mục đích của hành vi phạm tội: Nhằm đe dọa người bị hại để người bị hại làm hoặc không làm một việc gì đó.

- Về khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.

- Về chủ thể của tội phạm:

Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Như vậy, cả kể công an phường hay người bình thường thì khi thực hiện hành vi say rượu, chửi bới, đe dọa người khác cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác hoặc/ và tội đe dọa giết người khi có các dấu hiệu nêu trên.

3. Công an phường say rượu, chửi bới, đe dọa người dân thì bị xử lý như thế nào?

Từ nội dung phân tích nêu trên thì công an phường say rượu, chửi bới, đe dọa người dân thì sẽ phát sinh ra 02 hành vi vi phạm là xúc phạm danh dự người khác và đe dọa người dân. Theo đó:

Đối với hành vi say rượu, chửi bới người khác:

- Bị xử phạt vi phạm hành chính: 

Theo quy định tại điểm a khoản 3 và điểm b khoản 14 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về vấn đề xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác như sau:

Đối với người có hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 và Điều 54 Nghị định này thì sẽ bị phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 03 triệu đồng. Đồng thời,  phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn do hành vi vi phạm gây ra.

- Bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội làm nhục người khác thì áp dụng các hình phạt sau:

- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

- Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với hành vi đe dọa giết người

Tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội bị truy cứ trách nhiệm hình sự về tội đe doạ giết người, sẽ bị xử lý như sau:

- Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

+ Đối với người dưới 16 tuổi;

+ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Bên cạnh đó, người thực hiện hành vi say rượu, chửi bới, đe dọa người khác là công an phường nên người này ngoài có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra thì họ còn chịu sự kỷ luật của đơn vị nơi người này đang công tác.

Trong đó, đối với cán bộ, các hình thức kỷ luật bao gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Đối với công an là công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Có 04 hình thức xử lý kỷ luật gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Buộc thôi việc. Đối với công an là công chức chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Có 05 hình thức xử lý kỷ luật gồm:  Khiển trách; Cảnh cáo; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau: 

Hành vi chửi bới, lăng mạ người khác có bị xử lý hình sự không?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.