1. Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, công chức có được đi làm muộn 30 phút không?
Theo quy định của Điều 13 Luật Cán bộ, công chức 2008, cán bộ, công chức nhà nước có quyền được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, và nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Nếu cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm do yêu cầu nhiệm vụ, họ sẽ được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ. Điều này nhằm bảo đảm quyền lợi cho cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công vụ.
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về quyền lợi của cán bộ, công chức nhà nước nữ có con dưới 12 tháng tuổi, chúng ta cần xem xét các quy định của Bộ luật lao động 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Theo Điều 115 Bộ luật lao động 2019, người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong trường hợp kết hôn, sinh con, cha mẹ, vợ chồng hoặc con chết. Đối với trường hợp sinh con, người lao động có thể nghỉ 01 ngày nếu là người làm cha, mẹ, hoặc nghỉ 03 ngày nếu là người làm cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi.
Tại khoản 4 Điều 137 Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong những trường hợp nhất định, bao gồm cả người lao động mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng địa lý khó khăn, cùng những người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ khi có sự đồng ý của người lao động.
Ngoài ra, theo khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để chăm sóc con, và thời gian nghỉ này vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Dựa trên các quy định trên, cán bộ công chức nhà nước là nữ có con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút để chăm sóc con, bao gồm việc cho con bú, vắt sữa, và nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ này sẽ được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Tuy nhiên, về việc có được nghỉ sớm hoặc đi muộn 30 phút không, pháp luật không quy định cụ thể, do đó, cán bộ công chức có thể thỏa thuận với cơ quan để đảm bảo quyền lợi cá nhân mà không vi phạm quy định của pháp luật lao động.
2. Quyền của cán bộ công chức được bảo đảm điều kiện khi thi hành công vụ như thế nào?
Theo quy định tại Điều 11 Luật Cán bộ, công chức 2008, cán bộ, công chức được bảo đảm một loạt các quyền lợi và điều kiện nhằm đảm bảo cho quá trình thi hành công vụ một cách hiệu quả và an toàn. Dưới đây là chi tiết về những quyền lợi này:
- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ: Cán bộ, công chức khi đảm nhận một nhiệm vụ cụ thể sẽ được giao quyền lực và trách nhiệm tương xứng với công việc đó. Điều này giúp đảm bảo sự linh hoạt và hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ, công chức phát huy khả năng và kỹ năng cá nhân.
- Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác: Cán bộ, công chức có quyền yêu cầu và được bảo đảm trang thiết bị cần thiết để thực hiện công việc một cách thuận lợi và an toàn. Các điều kiện làm việc như môi trường làm việc, thiết bị công nghệ, vật liệu làm việc cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng theo quy định của pháp luật.
- Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn: Cán bộ, công chức có quyền được cung cấp đầy đủ thông tin về nhiệm vụ mình đang thực hiện, cũng như quyền hạn và trách nhiệm mà họ đang chịu trách nhiệm. Thông tin này không chỉ giúp họ hiểu rõ về công việc mà còn tạo điều kiện cho sự tập trung và đổi mới trong quá trình làm việc.
- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ: Cán bộ, công chức được đào tạo và bồi dưỡng định kỳ nhằm nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, và nghiệp vụ. Quyền này nhấn mạnh sự quan trọng của việc liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của công việc và xã hội.
- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ: Cán bộ, công chức có quyền được bảo vệ bởi pháp luật trong quá trình thi hành công vụ. Điều này bao gồm việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ trước mọi rủi ro, rắc rối pháp lý hoặc áp lực không mong muốn có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Tổng cộng, các quyền lợi này tạo ra một môi trường làm việc tích cực và an toàn cho cán bộ, công chức, khuyến khích sự cam kết và hiệu suất cao trong công việc của họ. Quy định chi tiết này làm nền tảng để xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức chất lượng và đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của xã hội và quốc gia
3. Có được xử lý kỷ luật công chức đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng không?
Theo Nghị định 112/2020/NĐ-CP, quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, có những trường hợp không xem xét xử lý kỷ luật. Một trong những trường hợp đó là khi cán bộ, công chức, viên chức là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc cán bộ, công chức, viên chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Theo quy định này, nếu công chức là nữ đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, thì cơ quan không thực hiện xử lý kỷ luật trong thời gian này. Điều này áp dụng cho cả thời kỳ mang thai, nghỉ thai sản, và giai đoạn nuôi con nhỏ. Cơ quan sẽ không tính thời gian này vào thời hạn xử lý kỷ luật.
Ngoài ra, theo Điều 5 Nghị định 112/2020/NĐ-CP, cũng quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật không tính vào trong các trường hợp như thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với những người đang ở trong các điều kiện như quy định tại Điều 3 của Nghị định này. Cũng không tính thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự và thời gian thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính.
Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019, Khoản 16 Điều 1 quy định rằng đối với những hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp, không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật.
Do đó, nếu một công chức nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi bị liên quan đến việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả, hoặc có hành vi không hợp pháp khác, thì thời hiệu xử lý kỷ luật sẽ không được áp dụng trong giai đoạn này. Tuy nhiên, sau khi qua thời gian nuôi con nhỏ, cơ quan sẽ tiếp tục xem xét và quyết định về hình thức kỷ luật phù hợp. Trong thời gian đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, chưa xem xét xử lý kỷ luật thì người đó vẫn là công chức và vẫn được trả lương hàng tháng theo quy định. Hết thời gian này công chức có hành vi vi phạm tì vẫn xử lý kỷ luật theo quy định
Bài viết liên quan: Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ có được quyền đi làm muộn, đi về sớm hay không?
Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng!