1. Quy định về ký tiếp hợp đồng lao động mới khi hợp đồng lao động trước đã hết hạn.
- Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
- Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản. Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
- Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động như sau:
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
- Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Như vậy khi muốn kí kết hợp đồng lao động thì hai bên người lao động và người sử dụng lao động cần phải đáp ứng được các yếu tố cơ bản trên.
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 thì hiện nay chỉ có hai loại hợp đồng lao động sau là hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn:
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn thì khi hết thời hạn của hợp đồng thì cũng là lúc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng lao động và quan hệ lao động chấm dứt. Đây cũng chính là một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của Điều 34 của Bộ luật Lao động năm 2019. Nhưng không phải cứ ký hợp đồng lao động xác định thời hạn thì khi hết thời hạn hợp đồng người lao động sẽ không được làm việc với người sử dụng lao động nữa mà còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và nhu cầu của hai bên mà họ sẽ thỏa thuận về việc có nên kí tiếp hợp đồng lao động mới hay chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng thời hạn trong hợp đồng lao động có xác định thời hạn hay không.
Cụ thể khi hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
- Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước, người lao động cao tuổi, đối với người lao động nước ngoài và người là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở theo quy định của pháp luật.
2. Xử lý hợp đồng lao động hết hạn khi đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi?
Căn cứ vào Điều 34 Luật lao động năm 2019 có quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
- Hết hạn hợp đồng lao động.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do.
- Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
- Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Như vậy với lao động nữ đang mang thai và hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà hết hạn hợp đồng thì chấm dứt quan hệ lao động. Tuy nhiên,người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt. Trường hợp, nếu người lao động nữ đang mang thai và hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi khi hết hạn hợp đồng lao động có nhu cầu ký kết thêm hợp đồng lao động thì có thể thỏa thuận thêm với người sử dụng lao động.
Ngoài ra, trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian người lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi, sẽ được ưu tiên giao kết hợp đồng mới theo quy định tại khoản 3 Điều 137 Bộ luật lao động 2019:" Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới."
- Nếu trong trường hợp người sử dụng lao động và người lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi khi hết thời hạn hợp đồng lao động mà không ký hợp đồng lao động mới. Thì người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định về thời hạn của hợp đồng lao động. Và người sử dụng lao động cũng phải thanh toán những khoản chi phí có liên quan đến người lao động như trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, ...
- Quy định về đóng và hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động cụ thể là nếu hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
- Theo đó, nếu hết hạn hợp đồng trong thời gian đang nghỉ hưởng chế độ thai sản thì người lao động vẫn được tính hưởng bảo hiểm xã hội từ khi nghỉ thai sản đến khi hợp đồng lao động hết hạn. Còn thời gian hưởng thai sản sau khi hết hạn hợp đồng sẽ không được tính vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội.
- Theo quy định tại khoản 6 Điều 42 của Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 cũng quy định: Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động.
Như vậy, ngoài việc được tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động được hưởng quyền lợi về bảo hiểm y tế đến cho đến khi hết hạn hợp đồng. Còn sau khi hết thời hạn hợp đồng mà không ký hợp đồng mới, người lao động chỉ được hưởng quyền lợi về bảo hiểm y tế đến hết tháng mà người sử dụng lao động báo giảm lao động.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật lao động tư vấn và giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!