1. Mức bồi thường khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

Chào luật sư, tôi có vấn đề muốn được luật sư tư vấn. Tôi ký kết với công ty hợp đồng không xác định thời hạn. Tôi đóng bảo hiểm được 5 năm rồi. Tôi bị tai nạn lao động trong khi làm việc, dẫn đến việc tôi phải nằm viện để điều trị, không đến công ty làm việc được trong thời gian 2 tháng. Đến tháng thứ 3 tôi quay lại công ty để làm việc thì mới biết công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với tôi.
Tôi không được báo trước về vấn đề này, tôi hỏi thì công ty bảo do tôi không đi làm nên họ tuyển nhân viên mới vào làm việc thay tôi rồi. Tôi thực sự rất bức xúc. Tôi muốn hỏi vậy công ty chấm dứt hợp đồng lao động vậy là đúng hay sai? Nếu sai công ty phải xin lỗi hay bồi thường tôi không?
Tôi cám ơn luật sư công ty luật Minh Khuê!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định pháp luật tại Điều 38, Bộ luật lao động năm 2012 về các trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động năm 2012 về các trường hợp người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, thì bạn bị tai nạn lao động dẫn đến việc phải nghỉ làm để điều trị tại bệnh viện. Như vậy, đối với trường hợp này công ty không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn theo khoản 1 điều 39 Bộ luật lao động năm 2012. Ngoài ra, trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động thì cộng ty cũng phải thực hiện việc báo trước cho bạn trong thời hạn 45 ngày theo quy định tại Điều 38.

Căn cứ quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Theo quy định trên, thì công ty có nghĩa vụ phải nhận bạn trở lại làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn đã giao kết từ đầu. Công ty phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày bạn không làm việc cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Ngoài ra, công ty còn phải một khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày công ty không báo trước cho bạn.

Trường hợp bạn không muốn tiếp tục làm việc tại công ty, thì ngoài khoản bồi thường nói trên, công ty còn phải trả cho bạn tiền trợ cấp thôi việc theo Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012.

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

2. Chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn ?

Thưa luật sư, nhờ Luật sư tư vấn giúp tôi thắc mắc như sau: Tôi xác lập mối quan hệ lao động với Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện X bằng hình thức ký hợp đồng lao động từ ngày 01/4/2006 đến nay hơn 11 năm. Công việc giao kết trong hợp đồng: "Dàn dựng múa, diễn viên, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn, hỗ trợ hướng dẫn nghiệp vụ cho các nhà văn hóa xã, chấp hành sự phân Công đột xuất của lãnh đạo ".

Qua 2 lần ký kết loại hợp đồng lao động xác định thời hạn, đến ngày 28/01/2010 tôi ký hợp đồng với ông Giám đốc lần thứ ba, là loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Nhưng ngày 10/10/2014 ông A - Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện X đã căn cứ Điều 36 Luật Lao động năm 2012 (không ghi rõ điểm, khoản) để ban hành Quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn đối với tôi với lý do: "Vị trí công việc hiện tại tôi đang đảm nhận thời gian tới Trung tâm Văn hóa - Thể thao chưa có nhu cầu - kinh phí hoạt động của Trung tâm Văn hóa - Thể thao không thể đảm bảo chi trả cho hợp đồng Lao động ngoài Biên Chế thời gian tới - đơn vị ko có quỹ tiền lương để chi trả cho hợp đồng lao động ngoài biên chế."

Ngày 14/10/2016, tôi gửi đơn khiếu nại nội dung Quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT, ông liền trả lời khiếu nại, ký tên, đóng dấu trực tiếp vào đơn khiếu nại và lập tức trả lại đơn cho tôi. Đến ngày 20/10/2016, ông tiếp tục trao cho tôi Quyết định số 290/QĐ-TTVH-TT về việc hủy bỏ quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT, ngày 10/10/2016 với lý do: "Nội dung của quyết định chưa phù hợp với quy định của pháp luật". Sau đó, ông trao tiếp cho tôi quyết định thôi việc thứ hai số 291/QĐ-TTVH-TT. Nội dung quyết định thứ hai này hoàn toàn không khác với nội dung quyết định thứ nhất. Chuyên môn của tôi đựơc đào tạo: Cử nhân Việt Nam học chuyên ngành hướng dẫn viên Du Lịch (Loại Giỏi) - Trung cấp Âm nhạc chuyên ngành Biên đạo múa (Lọai Giỏi). 11 năm công tác tôi đều hòan thành tốt nhiệm vụ ko bị kiểm điểm, nhắc nhở, không bị kỷ luật. Trung tâm Văn hóa - Thể thao là đơn vị sự nghiệp Công lập chưa tự chủ, cơ cấu tổ chức không có sự thay đổi.

Vậy xin hỏi Luật sư: giám đốc chấm dứt Hợp Đồng Lao Động không xác định thời hạn với tôi với lý do như vậy có đúng Luật không? Vì sao? Và tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gưi: K.O

Công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường những gì?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp của bạn là lao động được tuyển vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước theo hợp đồng lao động chứ không phải là viên chức và hợp đồng bạn giao kết là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên căn cứ theo khoản 10 Điều 36 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã."

Như vậy, với lý do: "vị trí công việc hiện tại bạn đang đảm nhận thời gian tới Trung tâm Văn hóa- Thể thao chưa có nhu cầu - kinh phí hoạt động của Trung tâm Văn hóa - Thể thao không thể đảm bảo chi trả cho họp đồng lao động ngoài Biên Chế thời gian tới - đơn vị không có quỹ tiền lương để chi trả cho hợp đồng lao ngoài biên chế." thì việc chấm dứt hợp đồng với bạn là đúng theo quy định của pháp luật trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế. Khi chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì trung tâm có các nghĩa vụ sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

"Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm."

3. Khoản bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Chào luật sư! Tôi có 1 vấn đề mong đươc luật sư tư vấn. Tôi có ký hợp đồng 15 tháng với chủ tiệm thuốc. Trong đó có 3 tháng học việc và tôi đã làm được khoảng 1 tháng. Trong thời gian làm việc này tôi thấy không phù hợp với tình trạng sức khoẻ của tôi do thời gian làm việc quá dài, từ 6h-23h30. Với mức lương hỗ trợ là 1 triệu/1 tháng.
Tôi muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng này khi hết thời gian học việc thì tôi phải bồi thường hợp đồng 15 tháng hay là 3 tháng đào tạo. Do chủ tiệm có nói là sau 3 tháng học việc mà không làm cho họ thì phải trả phí đào tạo là 5 triệu. Nhưng không có ghi trong hơp đồng. Và trong hơp đồng có ghi là nếu tôi phá hợp đồng trước kỳ hạn thì tôi phải bồi thường bằng số tiền thuê mặt bằng các tháng còn lại của hợp đồng này là 60 triệu. Nay tôi muốn chấm dứt hợp đồng này thì tôi phải bồi thường hợp đồng 15 tháng hay 3 tháng đào tạo, để lấy lại bằng gốc ạ?
Mong luật sư giúp đỡ. Cảm ơn!

 Khoản bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Luật sư tư vấn về pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thời giờ làm việc của bạn:

Điều 104Bộ luật lao động năm 2012 quy định thời giờ làm việc như sau:

"Điều 104. Thời giờ làm việc bình thường

1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần .

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.

3. Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành."

Trường hợp của bạn thời gian làm việc quá thời giờ làm việc bình thường, làm việc 17 giờ 30 phút trong một ngày nên sẽ là thời gian làm thêm giờ. Theo điều 106 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 106. Làm thêm giờ

1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ."

Bạn cần căn cứ vào việc bạn làm việc theo ngày, giờ hay theo tuần để xác định thời giờ làm việc bình thường của mình. Khi làm thêm giờ như vậy thì bạn sẽ được hưởng tiền lương làm thêm giờ. Theo điều 97 Bộ luật lao động 2012 về tiền lương làm thêm giờ:

"Điều 97. Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày."

Thứ hai, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động...

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động....

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này."

Theo điều 37 Bộ luật lao động 2012 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn thì bạn phải có một trong các lý do quy định tại khoản 1 điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 như trên và phải đảm bảo về thời hạn báo trước là 30 ngày thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn sẽ đúng pháp luật. Bạn sẽ không phải bồi thường theo hợp đồng hay 3 tháng đào tạo bởi vì nếu bạn đã có lý do chính đáng và đảm bảo các điều kiện theo quy định trên, đó là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.

Trường hợp bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là việc bạn chấm dứt hợp đồng không đúng theo điều 37 Bộ luật lao động 2012. Căn cứ điều 41 Bộ luật lao động

"Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này."

Bạn sẽ phải chịu trách nhiệm về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định sau:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Như vậy, bạn phải bồi thường theo quy định trên, trong đó có chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động, nhưng chi phí đào tạo đó phải có chứng từ hợp lệ.

Khoản 3 Điều 62 Bộ luật Lao động 2012 quy định:

“3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài”.

Việc bồi thường 60 triệu tiền thuê mặt bằng kia là không đúng với quy định của pháp luật lao động vì theo điều 23 Bộ luật lao động 2012 chỉ quy định nội dung hợp đồng lao động như sau:

"Điều 23. Nội dung hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;

b) Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;

c) Công việc và địa điểm làm việc;

d) Thời hạn của hợp đồng lao động;

đ) Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;

g) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

h) Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

i) Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế;

k) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

2. Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm.

3. Đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, thời tiết.

4. Nội dung của hợp đồng lao động đối với người lao động được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước do Chính phủ quy định."

Nếu người sử dụng lao động trả tiền lương làm thêm giờ không đúng quy định, bắt bạn phải bồi thường các khoản tiền đó thì bạn có thể làm đơn đến Sở lao động - thương binh và xã hội hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê