1. Doanh nghiệp có được cắt giảm nhân sự hay không?
Tại điểm c của khoản 1 Điều 36 Bộ Luật Lao động 2019, quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:
Người sử dụng lao động được phép chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương trong các trường hợp sau:
Do sự xuất hiện của thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc yêu cầu di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người sử dụng lao động đã cố gắng thực hiện mọi biện pháp khắc phục tình hình, nhưng vẫn phải giảm chỗ làm việc bắt buộc.
Theo quy định, nếu doanh nghiệp đã thực hiện mọi biện pháp khắc phục khi thu hẹp sản xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng vẫn phải giảm chỗ làm việc, doanh nghiệp có quyền thực hiện cắt giảm nhân sự.
2. Doanh nghiệp có bắt buộc phải bồi thường khi cắt giảm nhân sự?
Có nhiều lý do đa dạng khiến doanh nghiệp quyết định cắt giảm nhân sự và đưa ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với nhân viên. Tuy nhiên, trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bồi thường cho nhân viên chỉ xuất hiện khi họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không tuân theo quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp cắt giảm nhân sự không tuân theo quy định, người sử dụng lao động sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nhân viên.
Tại Điều 41 của Bộ luật Lao động 2019, quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:
- Người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
+ Nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kết;
+ Trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc;
+ Trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
+ Người lao động, sau khi được nhận lại làm việc, sẽ hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận từ người sử dụng lao động.
+ Trong trường hợp không còn vị trí công việc theo hợp đồng lao động nhưng người lao động muốn tiếp tục làm việc, hai bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
+ Nếu có vi phạm quy định về thời hạn báo trước tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật, người sử dụng lao động phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Trong trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, người sử dụng lao động, ngoài việc trả các khoản tiền theo quy định ở khoản 1, còn phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động.
- Nếu người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và hai bên thỏa thuận, ngoài các khoản tiền đã quy định ở khoản 1 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46, người sử dụng lao động còn phải trả khoản bồi thường thêm cho người lao động, ít nhất là bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Theo quy định, trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, doanh nghiệp sẽ phải nhận người lao động trở lại làm việc và bồi thường cho người đó. Tùy thuộc vào việc người lao động có đồng ý trở lại làm việc hay không, khoản bồi thường khi cắt giảm nhân sự trái luật sẽ khác nhau:
(1) Trường hợp người lao động đồng ý trở lại làm việc:
- Được trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Được trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
(2) Trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc:
- Được trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Được trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Được trả trợ cấp thôi việc.
(3) Trường hợp doanh nghiệp không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và được người đó đồng ý:
Người lao động được bồi thường như sau:
- Được trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Được trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Được trả trợ cấp thôi việc.
- Bồi thường ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp thực hiện cắt giảm nhân sự theo đúng quy định pháp luật, thì nó chỉ có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ quyền lợi cho người lao động, như thanh toán tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm, tiền phép năm chưa sử dụng hoặc chưa nghỉ hết, cùng với các khoản tiền khác mà đã được các bên thỏa thuận.
3. Không bồi thường khi cắt giảm nhân sự trái luật thì doanh nghiệp có bị phạt không?
Tại khoản 2 Điều 12 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP, quy định về xử phạt đối với người sử dụng lao động khi vi phạm các quy định về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động được thể hiện như sau:
Người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền trong trường hợp có một trong các hành vi như không trả hoặc trả không đủ tiền cho người lao động theo quy định của pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Mức phạt được xác định theo số lượng người lao động bị ảnh hưởng, theo các mức sau đây:
- Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Biện pháp khắc phục hậu quả
Bắt buộc người sử dụng lao động thanh toán đầy đủ tiền trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động, kèm theo số tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt. Số tiền lãi này được tính trên số tiền chưa thanh toán, áp dụng theo quy định tại khoản 2 của Điều này, liên quan đến hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động.
Chú ý: Theo quy định tại khoản 1 của Điều 6 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức xử lý hành chính này áp dụng mức phạt đối với người sử dụng lao động là cá nhân và gấp đôi (02 lần) đối với công ty (tổ chức).
Do đó, trong trường hợp từ chối thanh toán tiền bồi thường cho người lao động bị cắt giảm lao động, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền lên đến 40.000.000 đồng, phụ thuộc vào số lượng người vi phạm.
Đồng thời, doanh nghiệp sẽ phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi cho người lao động, kèm theo một khoản tiền lãi được tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Bài viết liên quan:
Cắt giảm nhân sự trong tình hình dịch bệnh Covid 19 như thế nào đúng luật ?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Công ty có buộc phải bồi thường khi cắt giảm nhân sự? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!