1. Lịch sử hình thành và phát triển loại hình Công ty TNHH

Pháp luật công ty của các nước châu Âu lục địa phân biệt khá rõ công ty trách nhiệm hữu hạn với công ty cổ phần, theo đó, công tytrách nhiệm hữu hạn thường có số lượng thành viên ít; vốn điều lệ của công ty không chia thành cổ phần; công ty không được phát hành chứng khoán để công khai huy động vốn trong công chúng. Pháp luật công ty của các nước Anh - Mĩ không phân biệt rõ ràng công ty trách nhiệm hữu hạn với ccông ty cổ phần. Cả hai loại này đều gọi chung là công ty (company ~ theo Bếnh gọi của luật Anh và corporation ~ theo cách gọi của luật Mi). Luật Mĩ sử dụng thuật ngữ close corporation để chỉ những công ty chỉ phát hành cổ phần cho một số đối tượng xác định. Luật Anh sử dụng thuật ngữ limited liability company hay private limited company để chỉ những công ty có tương đối ít thành viên và không phát hành rộng rãi cổ phần ra công chúng. Các close corporation hay limited liability company có nhiều nhiều nét giống công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật của các nước châu Âu lục địa.

Khác với tất cả các loại hình công ty, công ty TNHH ra đời là sản phẩm của hoạt động lập pháp. Các loại hình công ty khác do các thương gia sáng tạo và lập ra, pháp luật thừa nhận và góp phần hoàn thiện nó. Năm 1892, Luật về Công ty TNHH ở Đức được ban hành, trước đó đã có Luật Công ty cổ phần ban hành năm 1870. Các nhà làm luật cho rằng:

- Mô hình Công ty cổ phần không thích hợp với các nhà đàu tư vừa và nhỏ. Các quy định quá phức tạp trong luật Công ty cổ phần không cần thiết cho loại công ty vừa và nhỏ có ít thành viên và thường là họ quen biết nhau.

- Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư. Biết phân tán rủi ro là một trong các lý do để thành đạt trong kinh doanh. Công ty TNHH là loại công ty kết hợp được ưu điểm về chế độ chịu TNHH của Công ty cổ phần và ưu điểm các thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân. Nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và quản lý của Công ty cổ phần và nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân.

Đúng như dự đoán của các nhà làm luật, sau khi có Luật Công ty TNHH, các nhà đầu tư đã nhiệt tình hưởng ứng. số lượng các công ty TNHH tăng nhanh và hiện nay nó là một trong những loại hình công ty quan trọng nhất ở Cộng hoà Liên bang Đức. Sau năm 1892, ở hầu hết các nước châu Âu lục địa, Nam Mỹ cũng có Luật Công ty TNHH. Thực tể ở Việt Nam chứng minh, các nhà đầu tư rất ưa thích thành lập công ty TNHH. Từ sau khi có Luật Công ty đến nay, số lượng các công ty TNHH nhiều hơn hẳn các Công ty cổ phần.

2. Bản chất và chế độ trách nhiệm công ty TNHH?

Bất kì ai khi tìm hiểu về công ty TNHH đều có thể đặt câu hỏi,

tại sao lại gọi công ty này là công ty TNHH, khi các công ty đối vốn đều có đặc trưng cơ bản là chế độ TNHH.

Công ty TNHH là loại hình công ty trung gian giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, nó vừa có những tính chất của một công ty đối nhân, là các thành viên quen biết nhau; việc góp vốn dễ dàng, đơn giản, việc thành lập, quản lý công ty đơn giản hơn Công ty cổ phần. Do đó, dễ làm người ta nhầm lẫn công ty TNHH với công ty đối nhân và vì vậy, phải phân biệt rõ ràng ngay từ khi đặt tên. Còn khi nói tới Công ty cổ phần thì đương nhiên aí cũng hiểu về chế độ TNHH của các cổ đông.

Công ty TNHH là loại hình công ty đối vốn (tuỳ quan niệm của người nghiên cứu cũng có người xếp công ty TNHH thuộc loại hình công ty đối nhân), trong đó các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn mà họ đã góp vào công ty.

Lịch sử phát triển các công ty thời gian gần đây cho thấy, công ty TNHH một người chiếm vị trí khá quan trọng ở các nước châu Âu. Luật Doanh nghiệp Việt Nam có quy định về công ty TNHH một thành viên do một cá nhân hoặc một tổ chức làm chủ sở hữu. Việc thành lập công ty TNHH một chủ dựa trên cơ sở hành vi pháp lý đơn phương của một cá nhân hay một pháp nhân. Trong công ty TNHH một chủ, chủ sở hữu công ty phải chấp nhận một số hạn chế, cũng như chịu sự giám sát ngặt nghèo của pháp luật.

Ở hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì việc phân chia các loại hình công ty có một số điểm đáng lưu ý. Các doanh nghiệp gồm các loại sau:

- Xí nghiệp tư (Proprietorship) giống như doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam.

- Hợp danh (Partnership), bao gồm: hợp danh thông thường (general partnership) và hợp danh hữu hạn (Limited partnership).

- Công ty khép kín (Close Corporation).

- Công ty mở (Public Corporation).

3. Công ty Hợp danh

Luật hợp danh thống nhất của Hoa Kỳ định nghĩa: hợp danh là sự liên kết của hai hay nhiều chủ sở hữu nhằm tiến hành kinh doanh thu lợi nhuận. Hợp danh có đặc điểm chủ yếu sau:

- Các thành viên của hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của hợp danh.

- Các thành viên vừa là chủ sở hữu vừa là người quản lý, điều hành các hoạt động của hợp danh. Trong hợp danh không có bộ máy quản lý chuyên biệt.

- Hợp danh không phải là một pháp nhân. Các giao dịch của hợp danh do chính các thành viên của hợp danh tiến hành. Bất cứ hành vi nào của thành viên trong hợp danh nếu được thực hiện nhân danh hợp danh và trong phạm vi hoạt động của hợp danh đêu có giá trị ràng buộc đối với hợp danh đó cũng như đối với các thành viên của nó.

- Tư cách pháp lý của hợp danh được xác định chủ yếu bởi thoả thuận hợp danh. Pháp luật Hoa Kỳ không có những đòi hỏi chặt chẽ đôi với hợp danh như đối với các loại công ty. Luật Hợp danh chỉ điều chỉnh những gì mà thoả thuận hợp danh có thể không đề cập tới.

- Tài sản của hợp danh và bản thân hợp danh là sở hữu chung theo phần của các thành viên. Việc rút lui của một thành viên là điều kiện chấm dứt sự tồn tại của hợp danh.

- Tài sản của hợp danh do các thành viên đóng góp và không được biểu hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng cho người ngoài.

Hợp danh có hai hình thức là hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn. Hợp danh thông thường là hợp danh có đặc điểm như đã đề cập ở frên. Hợp danh hữu hạn là hợp danh trong đổ phải có ít nhất hai thành viên thông thường (chịu trách nhiệm vô hạn) và ít nhất một thành viên có TNHH. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn chính là sự có mặt của loại thành viên chịu TNHH, các thành viên có TNHH chỉ góp vốn vào hợp danh nhưng không tham gia hoạt động kinh doanh, quản trị các hoạt động đỏ. Có thể nhận xét rằng: Hợp danh thông thường theo pháp luật Hoa Kỳ có những điểm giống với loại hình công ty hợp danh theo pháp luật châu Âu lục địa, còn họp danh hữu hạn thì giống với loại hình công ty hợp vốn đơn giản.

4. Công ty khép kín.

Công ty khép kín có những đặc điểm pháp lý sau:

- Về số lượng thành viên thường không nhiều (tuỳ theo luật của từng bang) song thông thường tối đa là 35 thành viễn.

- Cổ phần cũng được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu song không được bán ra trên thị trường chứng khoán và cũng không được chuyển nhượng cho người ngoài công ty.

- Các thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty (TNHH). Tuy nhiên, có một điểm đặc biệt là frong những trường hợp nhất định, thành viên của công ty có thể phải chịu trách nhiệm vô hạn. Ví dụ như khi công ty vay vốn, ngân hàng có thể yêu cầu một số thành viên nhất định nào đó đứng ra chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản vay đó. Trong trường họp này, nếu công ty không trả được nợ thì các thành viên này phải chịu trách nhiệm cá nhân trước ngân hàng đối với khoản nợ đó.

- Ở công ty khép kín, vấn đề quản trị công ty do các thành viên phân công nhau đảm trách mà không có bộ máy quản trị tập trung, chuyên nghiệp.

Có thể nhận xét rằng, công ty kýn theo pháp luật Hoa Kỳ về cơ bản có những thuộc tính giống với loại hình công ty TNHH trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa.

+ Công ty mở:

Công ty mở có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Tài sản của công ty mở được hình thành từ các cổ phần và được xác định bằng cổ phiếu, cổ phiếu trong công ty dễ chuyển nhượng và được lưu thông trên thị trường như một loại hàng hoá. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa công ty mở và công ty kýn trong pháp luật của Hoa Kỳ. Tính dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu của công ty mở đem lại tính năng động về vốn, song vẫn giữ được tính ổn định về tài sản của công ty.

- Trong quá trình hoạt động, công ty có quyền phát hành cổ phiếu ra thị trường để huy động vốn.

- Về chế độ trách nhiệm: công ty chịu ữách nhiệm đối với các nghĩa vụ của mình trong phạm vi tài sản của công ty, các thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp của mình.

Từ những đặc điểm trên, có thể khẳng định công ty mở theo pháp luật Hoa Kỳ về cơ bản giống với Công ty cổ phần theo pháp luật châu Âu lục địa.

 

5. Đặc điểm của công ty TNHH là gì ?

Theo pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn có các đặc điểm sau:

1) Công ty là pháp nhân có tài sản độc lập, chịu trách nhiệm trước các khoản nợ trong phạm vi tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn);

2) Thành viên công ty có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không vượt quá 50;

3) Thành viên chỉ chịu trách nhiệm trước công ty trong phạm vì phần vốn cam kết góp vào công ty;

4) Công ty không được phát hành cổ phiếu trong suốt quá trình hoạt động.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn có một thành viên. Do công ty trách nhiệm hữu hạn thường có ít thành viên nên việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động tương đối đơn giản. Bởi vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn rất thích hợp để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ.

Đặc trưng của Công ty TNHH là gì ?

Công ty TNHH có những đặc trưng cơ bản:

- Công ty TNHH là một pháp nhân độc lập, tư cách pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty.

- Thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau, thông thường pháp luật các quốc gia đều quy định số lượng thành viên tối đa. Pháp luật Việt Nam quy định công ty TNHH toi đa không quá năm mươi thành viên,

- Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, trong điều lệ công ty phải ghi rõ vốn ban đầu. Nếu khi thành lập công ty mà các thành viên chưa góp đủ phần vốn góp thì công ty bị coi là vô hiệu. Công ty phải bảo toàn vốn ban đầu. Nguyên tắc này thể hiện rõ ữong quá trình góp vốn, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận.

Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài.

- Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu).

- Về tổ chức, điều hành ở công ty TNHH đon giản hơn so với Công ty cổ phần; về mặt pháp lý công ty TNHH thường ít chịu sự ràng buộc pháp lý hon so với Công ty cổ phần.

Có thể nói, công ty TNHH là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ.

Luật pháp các nước còn thừa nhận công ty TNHH một chủ. Công ty TNHH một chủ là hệ quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển pháp luật về công ty. Các công ty đối vốn vẫn có khả năng tồn tại và phát triển khi toàn bộ tài sản của công ty chuyển vào một thành viên duy nhất và trở thành công ty TNHH một chủ sở hữu. Như vậy, nếu theo định nghĩa truyền thống về công ty thì công ty một chủ không phải là công ty thực sự, bởi lẽ về bản chất nó chính là doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm hữu hạn. vấn đề là tại sao pháp luật các nước lại thừa nhận loại công ty này (Đức, Anh, Hoa Kỳ). Một số nước như: Tây Ban Nha, Italia, các nước Nam Mỹ thì lại không cho phép thành lập công ty TNHH một chủ vì cho rằng bản chất của nó là doanh nghiệp cá thể. Trong hệ thống kinh tế thị trường, chế độ TNHH tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hạn chế được rủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiều người, làm cho các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào bất kì lĩnh vực kinh tế nào có lợi cho xã hội. Trường hợp ngược lại, nếu phải chịu trách nhiệm vô hạn, họ không dám đâu tư vào những khu vực có khả năng rủi ro lớn và như vậy sẽ không có lợi cho xã hội. Trong thực tế, có công ty TNHH có nhiều thành viên, trong quá trình hoạt động các thành viên chuyển nhượng vốn cho nhau và cuối cùng chỉ còn một thành viên, công ty vẫn hoạt động có hiệu quả, đóng thuế cho Nhà nước, sử dụng nhiều lao động và thành viên đó không muốn kết nạp thêm thành viên mới. Trong trường hợp này lẽ nào lại bắt họ phải giải thể công ty hoặc buộc họ phải chuyển thành doanh nghiệp tư nhân, trong khi đó họ vẫn muốn giữ tên công ty và thương hiệu công ty đã được khẳng định uy tín trên thị trường. Hơn nữa, trong thực tế đã tồn tại công ty TNHH một thành viên, đó chính là các doanh nghiệp nhà nước.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)