Nhằm “Phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán bằng các chuẩn mực hài hòa trên phạm vi toán thế giới”, tháng 10/1977, Liên đoàn các nhà kế toán quốc tế (IFAC) đã ra đời. Trong IFAC, có nhiều ủy ban đảm trách các chức năng khác nhau, IAPC là Úy ban thực hành kiểm toán quốc tế...
1. Lịch sử phát triển về đánh giá và đối phó rủi ro theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Nhằm “Phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán bằng các chuẩn mực hài hòa trên phạm vi toán thế giới”, tháng 10/1977, Liên đoàn các nhà kế toán quốc tế (IFAC) đã ra đời. Trong IFAC, có nhiều ủy ban đảm trách các chức năng khác nhau, IAPC là Úy ban thực hành kiểm toán quốc tế phụ trách soạn thảo các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế. Năm 1980, IAPC đã ban hành các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IAG.
Nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro và tiếp cận dựa vào rủi ro trong kiểm toán, trong 29 nguyên tắc chỉ đạo IAPC ban hành, có các nguyên tắc chủ yêu liên quan đến công tác đánh giá và đối phó rủi ro gồm:
IAG 4: Kế hoạch kiểm toán
IAG 6: Nghiên cứu đánh giá hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan đến một cuộc kiểm toán
IAG 25: Trọng yếu và rủi ro
IAG 29: Đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và tác động của nó đối vối phương pháp kiểm toán cơ bản
Trong IAG 25, rủi ro kiểm toán được định nghĩa như sau: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng”.
Bên cạnh định nghĩa về rủi ro kiểm toán, IAG 25 cũng nêu ra bản chất của mỗi loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và mối quan hệ qua lại giữa các loại rủi ro; mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch và trong việc đánh giá bằng chứng kiểm toán.
Như vậy, IAG 25 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra định nghĩa và mô tả khái niệm “trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán”, mối quan hệ nội tại giữa chúng và việc kiểm toán viên áp dụng những khái niệm này khi lập kế hoạch và tiến hành một cuộc kiểm toán.
IAG 29 tiến bộ hơn một bước là hướng dẫn cho kiểm toán viên đánh giá các rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và sử dụng việc đánh giá đó để hình thành phương pháp kiểm toán cơ bản mà kiểm toán viên dự định tiến hành nhằm hạn chế rủi ro phát hiện ở mức thấp nhất có thể được.
Theo IAG 29, để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên dùng khả năng chuyên môn của mình để đánh giá hàng loạt các nhân tố ở giai đoạn lập báo cáo tài chính và ở giai đoạn kiểm tra số dư tài khoản và loại nghiệp vụ. Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát thông qua quá trình đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán của doanh nghiệp trong việc ngăn chặn hay phát hiện các sai sót quan trọng trong báo cáo tài chính.
Những năm 1980, phương thức tiếp cận theo phân tích rủi ro tài chính được sử dụng. Cách tiếp cận này yêu cầu kiểm toán viên phải xem xét một cách thận trọng những vấn đề về rủi ro và trọng yếu trong quá trình chuẩn bị chương trình kiểm toán cho từng nghiệp vụ của Doanh nghiệp. Chương trình kiểm toán phải nhấn mạnh vào những khu vực có rủi ro và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán. Để theo kịp những thay đổi này, đòi hỏi sự ra đời của các chuẩn mực kiểm toán.
Đến năm 1994, IAPC đã nâng cấp các nguyên tắc thực hành kiểm toán quốc tế và ban hành chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA. Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế ở giai đoạn này, các chuẩn mực liên quan trực tiếp đến đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính gồm:
ISA 240 – Gian lận và sai sót
ISA 250 – Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính
ISA 300 – Lập kế hoạch kiểm toán
ISA 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh ISA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ
Trong các chuẩn mực trên, ISA 400 giữ vai trò trung tâm. Sơ đồ sau đây sẽ tóm tắt mối quan hệ giữa các chuẩn mực trong việc thiết lập các yêu cầu đối với công tác đánh giá và đối phó rủi ro.
ISA 400 đề cập khái niệm rủi ro kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu:.
Chuẩn mực yêu cầu kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả.
ISA 400 cho rằng toàn bộ sai sót và gian lận là do bản chất của khoản mục được kiểm toán gây ra, điều này có thể thấy qua cách kiểm toán truyền thống của các
kiểm toán viên là tiếp cận từng khoản mục rồi đưa ra chiến lược để phát hiện sai sót và gian lận.
Như vậy, nhìn chung ISA 400 trong giai đoạn này chỉ nhấn mạnh đến rủi ro về mặt tài chính (nghĩa là chỉ quan tâm đến số liệu trên báo cáo tài chính), chưa đề cập đến ảnh hưởng của môi trường kinh doanh như chiến lược của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, tình trạng cạnh tranh trong ngành, xu hướng của nền kinh tế,… Đầu thế kỷ 21, từ sự sụp đổ hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới như Enron, Worldcom,… trong đó có lỗi của công ty kiểm toán. Sự sụp đổ và thất bại trong các cuộc kiểm toán buộc Hội nghề nghiệp phải xem xét và hiệu đính các chuẩn mực đã được ban hành. Liên quan đến mô hình rủi ro, chuẩn mực hiện hành không sử dụng mô hình rủi ro truyền thống vì mô hình này ngày càng bộc lộ nhược điểm. Trong mô hình truyền thống, rủi ro được tiếp cận ở trạng thái tĩnh trong khi thực tế rủi ro thay đổi chủ yếu theo môi trường kinh doanh mà các thay đổi này thường diễn ra và luôn có ảnh hưởng lớn đến ngành nghề và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề đó. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, khó tách biệt rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Nên nếu chỉ tập trung vào rủi ro về mặt tài chính trong cuộc kiểm toán, việc tư vấn sẽ kém hiệu quả.
Do đó, phương thức tiếp cận kiểm toán theo phân tích rủi ro tài chính được nâng cấp bằng cách tập trung nhiều hơn vào các rủi ro kinh doanh hay rủi ro mang tính chất chiến lược mà khách hàng đang gặp phải, tức chuyển sang tiếp cận kiểm toán theo mô hình rủi ro kinh doanh.
Mô hình rủi ro kinh doanh yêu cầu bên cạnh những hiểu biết vè rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ, kiểm toán viên phải có kiến thức sâu rộng hơn về hoạt động kinh doanh của khách hàng, cụ thể là chiến lược kinh doanh, rủi ro gắn với chiến lược kinh doanh của khách hàng, các biện pháp đánh giá và đối phó rủi ro và xác định ảnh hưởng của các rủi ro đến sự trình bày trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.
Theo phương pháp tiếp cận này, kiểm toán viên phải dành nhiều thời gian hơn cho giai đoạn lập lế hoạch. Đối vơi các nghiệp vụ thường xuyên xảy ra, kiểm toán viên sẽ dựa nhiều hơn vào hệ thống kiểm soát nội bộ bằng cách thực hiện các thử nghiệm kiểm soát. Kiểm toán viên sẽ chỉ tập trung kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ không thường xuyên và với cách tiếp cận như thế, kiểm toán viên tin rằng sẽ giảm được rủi ro kiểm toán và tăng tính hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Như vậy với một cách nhìn toàn diện hơn về doanh nghiệp (Top-down), mô hình rủi ro kinh doanh giúp cho cuộc kiểm toán trở nên hiệu quả và hữu hiệu hơn so với cách tiếp cận truyền thống dựa trên việc kiểm tra các nghiệp vụ và số dư để suy ra các thông tin trên báo cáo tài chính (Bottom-up). Việc nhấn mạnh hơn vào các rủi ro kinh doanh của cách tiếp cận này không mâu thuẫn mà chỉ mở rộng hơn phương thức tiếp cận theo rủi ro tài chính. Do những thay đổi trong quan điểm đánh giá và đối phó rủi ro dẫn đến chuẩn mực ISA 400 đã không còn hiệu lực và sự ra đời hai chuẩn mực liên quan đến công tác đánh giả rủi ro gồm:
ISA 315 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu.
ISA 330 – Thủ tục của kiểm toán viên trong việc đối phó những rủi ro đã lường trước
Ngoài ra, các chuẩn mực kiểm toán khác liên quan đến đánh giá rủi ro (ISA 200, ISA 240) cũng được thay đổi theo hướng đã hướng dẫn chi tiết hơn về những vấn đề còn tranh luận.
2. Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành liên quan đến đánh giá và đối phó rủi ro
2.1 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315
– Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu
ISA 315 đặc biệt nhấn mạnh đến mô hình rủi ro kinh doanh, một cách tiếp cận mới trong quy trình đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán. Chuẩn mực này yêu cầu kiểm toán viên cần tăng cường sự hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường kinh doanh, về hệ thống kiểm soát nội bộ. Chuẩn mực cũng yêu cầu các kiểm toán viên trong cùng một nhóm kiểm toán phải thảo luận về khả năng có các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính và mở rộng các yêu cầu về lập hồ sơ kiểm toán đối với việc đánh giá rủi ro.
Cụ thể, chuẩn mực ISA 315 đề cập đến các vấn đề chính như sau:
Thủ tục đánh giá rủi ro và nguồn thông tin về công ty được kiểm toán và môi trường kinh doanh kể cả kiểm soát nội bộ: Kiểm toán viên cần có hiểu biết về doanh nghiệp, về môi trường kinh doanh kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ, đủ để nhận diện rủi ro có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính do sai sót hay gian lận gây ra, và đủ để thiết kế và thực hiện thử nghiệm kiểm soát, bao gồm cả hệ thống kiểm soát nội bộ. Các thủ tục bao gồm:
+ Phỏng vấn người quản lý và các nhân viên đơn vị
+ Thủ tục phân tích
+ Quan sát và kiểm tra
+ Thảo luận trong nhóm kiểm toán về khả năng báo cáo tài chính có sai lệch trọng yếu
Hiểu biết về đơn vị và môi trường kinh doanh, bao gồm cả hệ thống kiểm soát nội bộ: Phần này yêu cầu kiểm toán viên hiểu biết về các khía cạnh trọng yếu của doanh nghiệp và môi trường hoạt động, các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, để nhận định và đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu. Các thông tin cần tìm hiểu gồm:
+ Các nhân tố bên ngoài, như: ngành nghề, quy định pháp lý, hệ thống kế toán
+ Tính chất và đặc điểm của đơn vị
+ Mục tiêu, chiến lược và các rủi ro kinh doanh có liên quan
+ Đánh giá và soát xét kết quả hoạt động
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ
Đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu: Phần này yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ từng cơ sở dẫn liệu cho nhóm nghiệp vụ, cho số dư tài khoản và cho trình bày và công bố. Để đánh giá, kiểm toán viên cần:
+ Nhận diện những rủi ro thông qua thu thập hiểu biết tình hình của đơn vị và môi trường, bao gồm hệ thống kiểm soát; và xem xét loại nghiệp vụ, số dư tài khoản, và việc trình bày trên báo cáo tài chính
+ Liên hệ những rủi ro đã nhận diện với những sai sót có thể xày ra ở mức
độ cơ sở dẫn liệu
+ Xem xét liệu các rủi ro có đưa đến sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính
+ Phần này cũng yêu cầu kiểm toán viên xác định xem có hay không những rủi ro đã đánh giá là những rủi ro trọng yếu cần có những cân nhắc đặc biệt, hoặc đó là những rủi ro mà chỉ thực hiện những thử nghiệm cơ bản thì không đủ cung cấp bằng chứng hữu hiệu. Kiểm toán viên được yêu cầu đánh giá việc thiết kế và việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong thực tế. Cần chú ý những rủi ro mà những thủ tục kiểm toán riêng lẻ không cung cấp đủ bằng chứng thích hợp.
Duyệt xét lại việc đánh giá rủi ro: Việc đánh giá rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy qua cuộc kiểm toán và có thể thay đổi theo bằng chứng thu thập được.
Thông tin cho ban lãnh đạo (Governance and Management): Kiểm toán viên phải thông báo cho ban lãnh đạo ngay khi có thể có các yếu kém trọng yếu trong kiểm soát nội bộ đã biết.
Lập hồ sơ kiểm toán: Hồ sơ kiểm toán phải lưu lại các vấn đề trong cuộc thảo luận giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán về khả năng xảy ra những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính do gian lận hay sai sót, việc đi đến các quyết định quan trọng khác,…
2.2 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 330
– Thủ tục của kiểm toán viên trong việc đối phó với những rủi ro đã lường trước
ISA 330 hướng dẫn quá trình đánh giá và đối phó rủi ro, phân biệt rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính và rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu, làm cơ sở cho các thủ tục kiểm toán được thiết kế để đối phó với các rủi ro đó. Trường hợp đơn vị có những rủi ro mà nếu chỉ áp dụng các thử nghiệm cơ bản sẽ không thể làm giảm rủi ro kiểm toán xuống mức được phép, chuẩn mực yêu cầu kiểm toán viên đánh giá kiểm soát nội bộ, thực hiện thử nghiệm kiểm soát. Kiểm toán viên phải liên kết những rủi ro được đánh giá với các yêu cầu thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung và tiến hành lập hồ sơ kiểm toán đối với những thủ tục đối phó với rủi ro.
Cụ thể, chuẩn mực này đề cập đến các nội dung chính như sau:
Đối phó rủi ro: Kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm toán trong đó chú trọng đến bản chất, phạm vi, quy mô, tính chất và thời gian của các thử nghiệm kiểm toán nhằm đối phó rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu. Mục đích của công việc này nhằm làm rõ hơn mối liên hệ giữa nội dung, phạm vi, thời gian của các thử nghiệm kiểm toán với đánh giá và đối phó rủi ro.
Thử nghiệm kiểm soát: Khi kiểm toán viên đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu, để xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị hoạt động có hiệu quả không, kiểm toán viên phải thực hiện thử nghiệm kiểm soát để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp chứng minh rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị hoạt động hiệu quả trong suốt thời gian kiểm toán.
Thử nghiệm cơ bản: Bất chấp việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu hay không, kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện thử nghiệm cơ bản cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, số dư tài khoản và công bố số liệu quan trọng.
Đánh giá bằng chứng: Dựa trên những thử nghiệm kiểm toán đã thực hiện và những bằng chứng kiểm toán đã đạt được, kiểm toán viên phải đánh giá xem liệu rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu có còn phù hợp không.
Lập hồ sơ kiểm toán: Kiểm toán viên phải lưu toàn bộ câu trả lời trong các cuộc trao đổi về đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ báo cáo tài chính; nội dung, phạm vi và thời gian của những thử nghiệm kiểm toán; mối quan hệ giữa các thử nghiệm này với việc đánh giá rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu; và kết quả của các thử nghiệm kiểm toán.
3. Các quy định liên quan đến đánh giá và đối phó rủi ro trong chuẩn mực kiểm toán
hiện hành tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Bộ tài chính chịu trách nhiệm ban hành các chuẩn mực kiểm toán, dựa trên cơ sở các chuẩn mực kiểm toán quốc tế (do IAASB ban hành):
Dựa trên hệ thống chuẩn mực này, Việt Nam đã soạn thảo hệ thống chuẩn mực cho VN. Chuẩn mưc kiểm toán đầu tiên được VN ban hành vào năm 1999 dựa trên chuẩn mực kiểm toán quốc tế ban hành vào năm 1994. Qua hơn 10 năm triển khai thì hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ 1999 – đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. Trước yêu cầu đó, ngày 13 tháng 5 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ký Quyết định số 1053/QĐ-BTC về việc “Ủy quyền cho Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam thực hiện nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”.
Việc nghiên cứu, soạn thảo và cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được thực hiện từ năm 2009 đến 2012, trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế do IAASB soạn thảo và công bố tháng 4 năm 2009, gồm 36 chuẩn mực kiểm toán, 01 chuẩn mực về kiểm soát chất lượng (ISQC1) có hiệu lực từ 15 tháng 12 năm 2009.
Ngày 06 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới để thay thế hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 2014. Đây là công cụ quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động tài chính, kinh tế đất nước trong bối cảnh hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới. Đây cũng là bước tiến quan trọng trong lộ trình nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Việt Nam.
3.1 Phân loại
Trong hệ thống chuẩn mực có hiệu lực từ năm 2014, các chuẩn mực liên quan trực tiếp đến đánh giá và đối phó rủi ro bao gồm:
VSA 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
VSA 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
VSA 330 – Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá
Trong đó, VSA 315 và VSA 330 giữ vai trò chủ đạo trong việc đánh giá và đối phó rủi ro trong quá trình kiểm toán BCTC.
3.2 Nội dung các chuẩn mực
VSA 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
“Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không. Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là kiểm toán viên không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.” (- Mục 05)
“Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, kiểm toán viên phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình kiểm toán, phải cân nhắc khả năng Ban Giám đốc có thể khống chế kiểm soát và phải nhận thức được thực tế là các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện nhầm lẫn một cách hiệu quả có thể không hiệu quả trong việc phát hiện gian lận. Các quy định của chuẩn mực kiểm toán này nhằm hỗ trợ kiểm toán viên trong việc xác định và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và thiết lập các thủ tục nhằm phát hiện sai sót đó.” (- Mục 08)
Đồng thời, chuẩn mực cũng đưa ra những tình huống, sự kiện để giúp KTV có thể xác định các trường hợp có nguy cơ xảy ra gian lận và sai sót và cách ứng xử của KTV khi phát hiện ra gian lận và sai sót.
VSA 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
VSA 315 yêu cầu KTV trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán phải tìm hiểu về hoạt động kinh doanh, hệ thống kế toán, HTKSNB của đơn vị được kiểm toán để từ đó xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá.
VSA 330 – Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trong việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu mà kiểm toán viên đã xác định và đánh giá khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315. Kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo với nội dung, lịch trình và phạm vi dựa vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê