Mục lục bài viết
1. Quyền bào chữa tại Australia
1.1 Luật nội dung và áp dụng
Hệ thống pháp luật của Australia được điều chỉnh bởi Hiến pháp của Khối thịnh vượng chung của Australia. Không có quy định cơ bản rõ ràng nào về quyền bào chữa trong Hiến pháp, tuy nhiên quyền được xét xử công bằng thì tồn tại như một quyền của hệ thống thông luật cơ bản Hơn nữa, Tòa Thượng thẩm khẳng định rằng Hiến pháp Australia đã bao gồm quyền được xét xử công bằng thông qua những khái niệm mặc nhiên về công bằng tư pháp theo Hiến pháp Australia.
Trong quyết định của Tòa Thượng thẩm Dietrich v R, phần lớn Tòa cho rằng những bị cáo nghèo khổ có quyền được đại diện pháp lý như một phần của quyền được xét xử công bằng của hệ thống thông luật. Áp dụng quyền này là trao cho tòa án quyền hoãn thủ tục tố tụng hình sự nếu không có sự hiện diện của luật sư - điều có thể dẫn tới xét xử không công bằng trong tố tụng hình sự nghiêm trọng. Quyết định của tòa không công nhận quyền tuyệt đối của một bị cáo là người nghèo được TGPL. Việc xác định sự hỗ trợ của nhà nước cho một bị cáo không khác với cách tiếp cận trong quyền con người quốc tế là dựa trên đánh giá về một loạt các yếu tố, bao gồm các ý nghĩa và lợi ích của công lí. Tuy nhiên, quyết định Dietrich đã quy định một bước tố tụng trong hệ thống hình sự nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền bào chữa và thẩm phán được trao quyền có thể từ chối tiến hành xét xử trong trường hợp bị cáo không có đại diện pháp lý.
1.2 Pháp luật về nhân quyền
Ở bang Victoria và Vùng Thủ đô Australia, hiến chương quyền con người được áp dụng. Theo Phần 25(2)(b) của Hiến chương quyền con người của bang Victoria, một bị can hình sự được có “đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị cho việc bào chữa và có quyền liên hệ với luật sư hay người tư vấn do mình lựa chọn”. Một quy định rõ hơn về TGPL, cụ thể là yêu cầu một người bị tình nghi có thể tiếp cận với TGPL được đưa ra tại Phần 25(2)(e)-(f). Quy định này bị coi là chưa xác định rõ ràng quyền bào chữa trong quá trình điều tra trước xét xử.
Một ví dụ về quy định của pháp luật hình sự Nhà nước về đại diện pháp lý là Điều khoản 464C(1) của Luật Hình sự 1958 (Crimes Act 1958) của bang Victoria, trong đó yêu cầu cảnh sát phải thông báo cho người bị tình nghi biết về quyền được liên hệ với một người hành nghề pháp lý trừ trường hợp khẩn cấp mà ảnh hưởng tới an toàn của những người khác. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là nếu bằng chứng được thu thập không liên quan đến những yêu cầu quy định này thì không có quy định nào loại trừ quyền bào chữa khỏi quá trình tố tụng. Luật Bằng chứng (Evidence Act) thống nhất trên cả nước mà Ủy ban Cải cách pháp luật Australia khởi xướng đã đưa ra những quy định về bằng chứng, đó là bằng chứng sẽ không được thừa nhận nếu bằng chứng đó được cho là đã được thu thập một cách không công bằng. Theo lập luận trong Dietrich thì vấn đề này nhằm khẳng định quyền bào chữa để đảm bảo rằng quyền lợi của bị cáo không bị phương hại một cách không công bằng trong việc thu thập bằng chứng.
Đạo luật Hợp nhất Pháp luật Hình sự 1935 (Criminal Law Consolidation Act 1935) của Nam Australia có một quy định rõ ràng về quyền bào chữa, tuy nhiên quy định này dường như không bao gồm giai đoạn điều tra, cũng như không bao gồm việc chỉ định người đại diện pháp luật được nhà nước cung cấp.
Đặc quyền pháp lý của thân chủ là một quy tắc được công nhận của hệ thống thông luật ở Australia để bảo vệ quyền giao tiếp riêng tư giữa thân chủ và luật sư, hiện nay được quy định trong một số đạo luật của Australia.
Đáng lưu ý nhất là Đoạn 23G(2)(b) Luật Hình sự của Khối thịnh vượng chung Australia 1914 (Australian Commonwealth Crimes Act 1914) quy định nếu một người bị bắt hay bị cảnh sát giam giữ muốn liên lạc với luật sư thì cán bộ điều tra phải cho phép thực hiện việc liên lạc này với điều kiện không bị nghe lén ở độ xa thích hợp nhất. Nhưng điều này có một ngoại lệ, hạn chế bởi những yêu cầu nghiêm ngặt, là khi việc tuân thủ quyền liên lạc bí mật có khả năng bóp méo công lý. Hơn nữa, Luật về Chứng cứ của Khối thịnh vượng chung Australia 1995 (Australian Commonwealth Evidence Act 1995) bảo vệ đặc quyền pháp lý của thân chủ, ngăn ngừa việc thu thập chứng cứ có thể dẫn tới tiết lộ thông tin riêng tư giữa thân chủ và luật sư. Những quy định này được lặp lại khi thực hiện việc thống nhất các Luật về Chứng cứ ở các bang của Australia.
1.3 Kết luận
Hiến pháp Australia và hệ thống thông luật không quy định rõ về quyền bào chữa. Tuy nhiên, việc không có luật sư bào chữa có thể bị coi là xét xử không công bằng, thủ tục tố tụng hình sự có thể bị đình, hoãn lại để nhận được TGPL, hay một yêu cầu hỗ trợ do tòa trực tiếp đưa ra. Không có hạn chế đáng kể nào đối với việc có đại diện pháp luật của những người có thể thuê luật sư và những bị cáo thuộc diện nghèo, những người được cung cấp đại diện pháp luật nhờ hệ thống TGPL.
2. Cộng hòa Liên bang Đức
2.1 Nguồn luật tố tụng và hình sự Đức
Hiến pháp Đức, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland (Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức) có hiệu lực từ sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Tây Đức, và được giữ lại sau khi nước Đức thống nhất hai miền. Nguồn chính của các quy định tố tụng hình sự Đức và liên quan tới quyền bào chữa là Strafprozeßordnung (Bộ luật Tố tụng Hình sự (CCP)). Bộ luật này có hiệu lực từ năm 1877 với rất ít sửa đổi.
2.2 Luật nội dung và áp dụng
Điều 1 của Hiến pháp Đức quy định công nhận tính chất không thể xâm phạm và không thể chuyển dịch của quyền con người và tác động ràng buộc của những quyền đó đối với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, Hiến pháp không quy định rõ ràng về quyền bào chữa; thực tế quyền bào chữa được quy định trong CCP.
CCP có một chương đầy đủ dành cho các quyền luật định và thủ tục tiếp cận người bào chữa cho cá nhân theo hệ thống luật hình sự. Phần đầu tiên của chương này quy định bị cáo phải được “sự hỗ trợ của người bào chữa vào bất kì giai đoạn nào của quá trình tố tụng”.Xét về hình thức, phần đầu này bao quát toàn bộ quá trình tố tụng hình sự trong đó quyền bào chữa không bị giới hạn ở giai đoạn trước khi xét xử hay trong giai đoạn xét xử; tuy nhiên những quy định cụ thể hơn đã làm rõ sự khác nhau giữa quyền bào chữa (và phạm vi của nó) và quyền có sự hiện diện của luật sư bào chữa. CCP yêu cầu người bị tình nghi phải được thông báo về những quyền này vào thời điểm bắt đầu mỗi cuộc thẩm vấn, cho dù cuộc thẩm vấn đó là do cảnh sát, thẩm phán hay công tố viên thực hiện và cho dù người bị tình nghi có đang bị giam giữ hay bị buộc tội không. Thông tin này chỉ cần được cung cấp cho những người bị tình nghi và không phải trong trường hợp cảnh sát hỏi ai đó “một cách không chính thức”.
Bởi vì trên thực tế, người bị tình nghi không thể bị cưỡng ép phải hiện diện để cảnh sát thẩm vấn, do đó sự có mặt của luật sư trong trường hợp này là không bắt buộc.Trước khi thẩm vấn chính thức, người bị tình nghi có quyền hỏi ý kiến của luật sư. Trên thực tế cảnh sát thường cho phép luật sư hiện diện, vì người bị tình nghi thường giữ im lặng cho đến khi luật sư của họ có mặt. Khi một bản khai được đưa ra với sự hiện diện của luật sư, thì luật sư có quyền can thiệp vào quá trình thẩm vấn với mục đích tư vấn và đặt câu hỏi. Nếu người bị tình nghi bị buộc phải tham gia các cuộc thẩm vấn để chuẩn bị buộc tội, thì quyền bào chữa phải được bảo đảm.CCP quy định rõ sự hiện diện của luật sư bào chữa trong quá trình thẩm vấn xét xử và trong quá trình thẩm vấn của công tố viên.
CCP quy định việc chỉ định bắt buộc luật sư bào chữa cho những vụ án có thể dẫn tới hình phạt nghiêm khắc hay bị cáo bị khuyết tật để có thể tự bào chữa. Thẩm phán thụ lý vụ án sẽ tiến hành chỉ định luật sư ở thời điểm sau khi công bố cáo trạng. Tuy nhiên luật sư bào chữa có thể được chỉ định ở giai đoạn điều tra khi văn phòng công tố viên yêu cầu chỉ định luật sư bào chữa. Tòa án Phúc thẩm liên bang Đức cho rằng công tố viên phải có nghĩa vụ yêu cầu việc chỉ định đó khi người bị tình nghi được yêu cầu thực hiện những quyền quan trọng.
Bộ luật Tố tụng Hình sự Đức quy định bị cáo có quyền liên lạc với luật sư bào chữa bằng văn bản và bằng lời nói. Trong trường hợp bị cáo bị buộc tội khủng bố, việc liên lạc này có thể bị ngăn cản. Quy định này không được áp dụng kể từ năm 1977.
Quyền từ chối đưa ra lời khai về cơ sở chuyên môn của người bào chữa và luật sư đối với thông tin được tin tưởng giao cho họ hay họ biết được với tư cách này được bảo vệ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự. Phần 97 của Bộ luật này đảm bảo rằng bất kì ghi chép nào có chứa thông tin bí mật mà luật sư bào chữa có được sẽ không bị tịch thu. Những hạn chế này chỉ áp dụng trong phòng giam của người được miễn khai báo, trừ khi những ghi chép này đang để tại bưu điện. Những nguyên tắc này không áp dụng trong những tình huống khi luật sư bào chữa bị nghi ngờ là tòng phạm.
2.3 Nghĩa vụ của thành viên Hội đồng Châu Âu
Đức là một thành viên của Hội đồng Châu Âu và là một bên tham gia Công ước Châu Âu về Nhân quyền,141 Điều 6 của Công ước này quy định quyền của người đại diện theo pháp luật.142 Quyết định của Tòa án Nhân quyền Châu Âu về nội dung quyền bào chữa (như đã đề cập ở trên) là rất quan trọng đối với cách thức mà các tòa án của Đức giải thích và áp dụng quyền tố tụng hình sự ở nước này, theo cách thức khác với những thẩm quyền tố tụng ở những nước khác được khảo sát trong Báo cáo này.
2.4 Kết luận
Mặc dù Hiến pháp Đức không quy định rõ quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, nhưng quyền này được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Đức. Không có quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra; tuy nhiên có tồn tại quyền bào chữa trong các giai đoạn sau khi đã có cáo trạng của quá trình tố tụng hình sự, bao gồm cả việc tòa án chỉ định luật sư.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê