1. Cấu trúc của Hệ thống Tư pháp Hình sự Trung Quốc

Trong cấu trúc của hệ thống tư pháp hình sự Trung Quốc, quyền bào chữa hợp pháp tăng dần theo cấp độ bậc thang vì một vụ án được tiến hành từ  quá trình điều tra tiền xét xử, đến luận tội, đến xác định có tội hay vô tội trước tòa. Mỗi giai đoạn này  nằm trong phạm vi  hoạt động của mỗi tổ chức thể chế riêng biệt. Các cuộc điều tra  hoàn toàn do cơ quan công an kiểm soát, giai đoạn luận tội được các kiểm sát viên    thực hiện và các phiên tòa được tiến hành bởi tòa án. Không có cơ quan nào  trong số này phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau, với  cơ chế ‘kiểm  tra và cân  bằng’ (‘checks  and balances’) không đáng kể. Khi không có sự giám sát chéo giữa các cơ quan, mỗi   cơ quan có quyền quản lí hoàn toàn trong lĩnh vực mình phụ trách, và chỉ tuân theo quyền lực chính trị bao  trùm  của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các cơ quan ban   hành chính sách của Đảng, Nghị viện Nhân dân Toàn quốc. Sự cố hữu  của hệ thống   tư pháp trong hệ thống chính trị Trung Quốc đã làm mất đi tính độc lập của tòa án: Tòa án chịu trách nhiệm trước các ủy ban chính trị nhất định.Việc thiếu sự giám sát chéo giữa các cơ quan đã làm mất đi trách nhiệm giải trình của tòa án.

2. Các nguồn luật tố tụng và hình sự Trung Quốc

Không có khái niệm đơn lẻ nào khái quát toàn bộ quyền bào chữa trong pháp luật hình sự Trung Quốc, mặc dù Hiến pháp có quy định sự đảm bảo về quyền tố tụng hợp lí một cách hạn chế, về cơ bản dẫn tới một quy định hẹp cấm giam giữ trái pháp luật. Hiến pháp không trao quyền bào chữa, cũng không đưa ra bất kỳ quyền nội dung nào khác trong tố tụng tư pháp hình sự49. Hơn nữa, Hiến pháp không thể tự thực thi và các tòa án thiếu thẩm quyền để viện dẫn Hiến pháp trong các quyết định của mình50. Thiếu đi sự bảo vệ về mặt hiến pháp, quyền bào chữa trước mỗi tổ chức cấu thành của bộ máy tư pháp hình sự Trung Quốc được điều chỉnh bởi nguồn quy định của pháp luật, và phần còn lại dựa trên cơ sở đa dạng của quyền thực thi.

3. Luật nội dung và áp dụng

Ở Trung Quốc, các tội danh và các hình phạt liên quan được quy định tại Luật Hình sự, được sửa đổi năm 1997, được biết đến bởi rất nhiều sửa đổi sau này của Nghị viện Nhân dân Toàn quốc. Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự được xác định chủ yếu bởi Luật Tố tụng Hình sự, được sửa đổi phần lớn vào tháng ba năm 2012, cũng như bởi Luật Luật sư và Đại diện pháp luật năm 1996, được sửa đổi năm 1998.

3.1 Điều tra

Đối với quyền bào chữa ở giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự, Luật Tố tụng Hình sự sửa đổi yêu cầu cơ quan an ninh công cộng bảo vệ quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác của người bị tình nghi hình sự. Một người bị tình nghi hình sự có quyền chỉ định một ‘người bào chữa’ như luật sư bào chữa vào bất kì thời điểm nào kể từ thời điểm bị cơ quan điều tra thẩm vấn lần đầu hay thời điểm phải chịu các biện pháp bắt buộc. Cơ quan điều tra có nghĩa vụ thông báo cho người bị tình nghi hình sự rằng họ có quyền này. Những người được chỉ định làm người bào chữa phải là luật sư. Trong trường hợp người bị tình nghi hình sự đang bị giam giữ, luật sư bào chữa có thể do ‘người chăm sóc/người giám hộ’ hay người thân chỉ định đại diện cho họ.57 Sau khi người bị tình nghi hình sự yêu cầu luật sư bào chữa, cơ quan điều tra phải ‘khẩn trương truyền đạt yêu cầu’.
Trường hợp những khó khăn về tài chính hay các lí do khác cản trở người bị tình nghi hình sự chỉ định luật sư bào chữa, người bị tình nghi hay người thân của họ có thể yêu cầu tổ chức trợ giúp pháp lí để được trợ giúp pháp lí miễn phí. Nếu đáp ứng được các điều kiện để cung cấp trợ giúp pháp lí, bên cung cấp dịch vụ liên quan buộc phải cử luật sư đủ tiêu chuẩn làm luật sư bào chữa cho người bị tình nghi. Yêu cầu cơ bản để được trợ giúp pháp lí là người bị tình nghi hình sự chưa thuê luật sư do 'khó khăn tài chính', tiêu chuẩn địa phương về khó khăn tài chính do chính quyền các tỉnh, khu vực tự trị, và thành phố trực thuộc trung ương xác định.61 Cơ quan điều tra không có nghĩa vụ chung phải yêu cầu trợ giúp pháp lí thay mặt bị can. Tuy nhiên, trong trường hợp người bị tình nghi hình sự đang bị điều tra về các tội mà, nếu bị tuyên, có thể dẫn tới án tù chung thân hay tử hình, và người bị tình nghi chưa chỉ định luật sư bào chữa của chính họ, thì cơ quan công quyền có liên quan (công an, viện kiểm sát hay tòa án, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng) có nghĩa vụ thu xếp một cơ quan trợ giúp pháp lí chỉ định luật sư bào chữa cho người bị tình nghi,62 bất kể hoàn cảnh kinh tế của người bị tình nghi.
Trong quá trình điều tra, một luật sư bào chữa được chỉ định có thể cung cấp những hỗ trợ về mặt pháp lí cho người bị tình nghi, bao gồm cả các ý kiến; thay mặt họ làm đơn kiện hay cáo trạng; yêu cầu thay đổi các biện pháp bắt buộc; và yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp thông tin về tội danh bị tình nghi và các thông tin có liên quan khác về vụ án. Trước khi kết thúc điều tra, theo yêu cầu, cơ quan điều tra phải lắng nghe và ghi chép lại ý kiến của luật sư bào chữa của người bị tình nghi. Vào bất kì giai đoạn nào trong tố tụng nếu luật sư bào chữa thấy rằng cơ quan công quyền hay cán bộ của các cơ quan đó gây trở ngại cho việc thực hiện quyền tố tụng, họ có quyền khiếu nại lên cơ quan kiểm sát, hay cơ quan cao nhất tiếp theo, cơ quan này sau đó có nghĩa vụ phải khẩn trương xem xét đơn kiện và, nếu đã xác minh, phải xử lí hành vi cản trở đó.
Một người bị tình nghi hình sự hay một bị can bị giam giữ hay bị giám sát tại nơi cư trú có quyền trao đổi thư từ, và gặp gỡ luật sư bào chữa của họ. Trong trường hợp luật sư bào chữa yêu cầu trao đổi thư từ hay gặp gỡ người bị tình nghi hình sự hay bị can bị giam giữ, cơ sở giam giữ phải thu xếp cuộc gặp đó trong vòng 48 giờ. Mặc dù pháp luật không quy định sự đảm bảo chung về liên lạc bí mật giữa người bị tình nghi hay bị can và luật sư bào chữa, luật cũng cấm việc giám sát cuộc gặp giữa luật sư bào chữa và người bị tình nghi hay bị can đang bị giam giữ, và quy định cấm này cũng mở rộng đối với giám sát tại nơi cư trú. ‘Người bào chữa’ bổ sung cũng có thể gặp riêng hay trao đổi thư từ với người bị tình nghi hình sự hay bị can đang bị giam giữ, nhưng chỉ khi được phép của tòa án hay của kiểm sát viên.

3.2 Truy tố

Khi giai đoạn điều tra đã hoàn thành, vụ án được chuyển sang cho Viện kiểm sát Quốc gia (‘procuratorate’) để xem xét và truy tố. Trong giai đoạn này, quyền bào chữa của người bị tình nghi được mở rộng ở một số khía cạnh. Bắt đầu từ ngày xem xét vụ án bởi viện kiểm sát, luật sư bào chữa có thể tiếp cận, trích và sao tài liệu được thu thập trong vụ án,72 và có thể xác minh bằng chứng với người bị tình nghi.73 Viện kiểm sát có nghĩa vụ thông báo cho người bị tình nghi hình sự quyền được chỉ định luật sư bào chữa của họ trong vòng 3 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án được chuyển để xem xét.

3.3 Tố tụng tại tòa

Sau khi quyết định đưa vụ án ra tòa, tòa án có nghĩa vụ riêng biệt phải thông báo cho bị cáo về quyền được chỉ định luật sư bào chữa trong vòng ba ngày.75 Trong suốt phiên tòa, luật sư bào chữa có thể trình bày các tài liệu và ý kiến chứng minh cho sự vô tội của bị cáo, những tiểu tiết của tội danh bị cáo buộc, hay cho nhu cầu giảm nhẹ hình phạt hay miễn trách nhiệm hình sự, và có thể hành động để bảo vệ các quyền tố tụng và ‘các quyền và lợi ích hợp pháp khác’ của bị can. 76 Luật sư bào chữa có thể đề nghị tòa hay viện kiểm sát yêu cầu đưa đến trước tòa những bằng chứng có thể chứng minh sự vô tội của bị cáo.77 Ý kiến của luật sư bào chữa phải được Tòa án Nhân dân Tối cao lắng nghe, trong trường hợp Tòa đang xem xét vụ án có thể dẫn tới án tử hình.78

3.4 Áp dụng trong thực tiễn

Mặc dù sửa đổi gần đây của Luật Tố tụng Hình sự đưa ra một số tiến bộ về quyền bào chữa ở Trung Quốc, vẫn cần phải xem những cải tiến này sẽ được thực thi nhanh chóng và hiệu quả đến đâu trên thực tế. Hiện nay, phần lớn bị cáo hình sự bị xét xử ở Trung Quốc không được đại diện bởi luật sư, với các nguồn chính thức cho thấy rằng chỉ có 30% các vụ hình sự có bào chữa pháp lí dưới một hình thức nào đó, con số này do một nghiên cứu độc lập. Lần sửa đổi năm 1996 của Luật Tố tụng Hình sự dẫn tới sự sụt giảm mạnh số vụ án hình sự có đại diện pháp luật, hơn là tăng, mặc dù có một số cải tiến luật án lệ đối với quyền bào chữa. Đối với những người bị tình nghi và bị can có đại diện pháp luật, tiếp cận khách hàng một cách chính thức trong quá trình giam giữ thường bị hạn chế.
Những sửa đổi gần đây của Luật Tố tụng Hình sự nhìn chung đã cải thiện việc tiếp cận luật sư bào chữa, so với những quy định được thay thế. Pháp luật Trung Quốc, tuy nhiên, vẫn duy trì những hình phạt hình sự nghiêm khắc đối với luật sư, có thể quy định lên tới bảy năm tù giam đối với luật sư lôi kéo nhân chứng thay đổi lời khai bất chấp sự thực’, những hình phạt này có thể hạn chế hiệu lực của quyền bào chữa của bị cáo. Những quy định như vậy đã được các cơ quan chính quyền sử dụng để cản trở hơn 500 luật sư từ năm 1997 đến 2002. Những loại hình phạt như thế này hạn chế một cách hiệu quả quyền bào chữa hợp pháp của những người đang bị điều tra, bị buộc tội, hay bị kết tội, phạm tội hình sự ở Trung Quốc.
Việc tiếp cận quyền bào chữa càng bị hạn chế hơn trong những trường hợp liên quan tới người bị tình nghi có tội danh gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia, tội danh khủng bố, tội danh đặc biệt nghiêm trọng về tham nhũng và các tội danh liên quan tới ‘bí mật quốc gia’. Trong những trường hợp này, luật sư bào chữa phải nhận được sự cho phép của cơ quan điều tra, hơn là cơ sở giam giữ, để gặp người bị tình nghi hay bị can. Bằng chứng không chính thức cho thấy các quy định về ‘bí mật nhà nước’ thường được sử dụng để từ chối quyền tiếp cận thân chủ, thậm chí ngay cả khi có đơn xin được tiếp xúc.Căn cứ vào tính chất độc lập của các cơ quan pháp luật Trung Quốc và sự kiểm soát hoàn toàn của cơ quan công an đối với giai đoạn điều tra một vụ án, thì quyết định không cho tiếp cận luật sư bào chữa trên cơ sở ”đảm bảo bí mật nhà nước” là không phải bàn cãi, và do đó xiết chặt việc hưởng quyền một cách hiệu quả
4. Kết luận
Mặc dù đã có quy định bảo vệ tối thiểu về quyền bào chữa trong Luật Tố tụng Hình sự sửa đổi gần đây, cụ thể là việc mở rộng các quyền cấu thành trong giai đoạn điều tra và xem xét truy tố, nhưng trên thực tế việc áp dụng bị hạn chế do bản chất không chịu trách nhiệm của các cơ quan bao gồm bộ máy tư pháp hình sự Trung Quốc, việc pháp luật không quy định hình phạt cho việc không thực thi nghĩa vụ công, và biện pháp pháp lí đối với việc ngăn cản việc tiếp cận pháp lí, đặc biệt là khi có cáo buộc liên quan tới ‘bí mật nhà nước’ hay an ninh quốc gia, khủng bố, hay tham nhũng nghiêm trọng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê